Posted on 30.09.2011 by nguyentrongtao
NTT: Sáng nay, báo Điện tử Giáo Dục Việt Nam tổ chức cuộc
Giao lưu trực tuyến “Bắt mạch căn bệnh háo danh và gian dối của quan
chức” với các vị khách mời gồm nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ
Mão, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, TS Nguyễn Minh Thuyết (nguyên Phó
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng
của Quốc hội), nhà sử học Dương Trung Quốc. NTT xin trích đăng những câu
hỏi và trả lời của Phạm Xuân Nguyên, người được biết đến qua hai câu
thơ hài hước: “Viện Văn có một Phạm Xuân/ Nguyên là cán bộ cử nhân phê bình”.
Trân trọng gửi lời chào tới nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên. Nghe
danh ông đã lâu, nay mới có dịp được cùng trò chuyện. Xin gửi ông câu
hỏi mà cũng là tâm sự của tôi: có hai sự kiện: Một, ông Tổng giám đốc 1
ngân hàng lớn thuê người viết ca ngợi mình (chuyện từ cậu bé chăn trâu
đến Tổng Giám đốc) rồi bắt cán bộ nhân viên hệ thống ngân hàng đó mua
sách ấy; Hai, một ca sĩ nổi tiếng hát nhạc sến tự đúc tượng mình dựng
ngay cạnh cửa nhà mình. Theo ông, sự háo danh nào nguy hiểm và đáng lên
án hơn?
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Theo tôi, trong hai
sự việc này, sự kiện ông tổng giám đốc có tác động xấu nhiều hơn đến
cộng đồng. Cố nhiên cả hai sự kiện đều là biểu hiện của sự háo danh.
Nhưng anh ca sỹ mới chỉ dừng lại ở chỗ đúc tượng đặt cửa nhà mình như
một sự hợm mình, chơi trội. Nó cũng chỉ tiêu tốn tiền bạc của anh ta
thôi, nằm trong phạm vi cá nhân. Còn ông tổng giám đốc, khi đó ông đã có
thức lấy cuộc đời mình làm tấm gương, bắt mọi người noi theo. Hơn nữa,
khi in sách là anh đã khoác cho công việc của mình một ý nghĩa xã hội,
anh có thể dùng tiền của công và rồi bắt mọi người mua.
Nói chung cả hai trường hợp đó đều là biểu hiện thói tật cố hữu của
người Việt, thích khoe khoang, khoe nhà cửa, tiện nghi vật chất, con
cái, công danh. Một khi đã khoe thì rất dễ chạy theo những cái phù
phiếm, giả tạo, rất dễ thổi phồng, khoa trương. Và theo tôi, cố tật này
đang trở thành một bệnh lan tràn, phổ biến trong mọi lĩnh vực xã hội.
Trong đời, chắc chắn ông đã từng gặp những người háo danh, những
biểu hiện háo danh dưới nhiều khía cạnh khác nhau, ông có thể kể lại vài
ví dụ thú vị nhất? (độc giả giấu tên tại TP Hồ Chí Minh).
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Ví dụ như tôi đôi lúc
được người ta trao cho những danh thiếp trên đó ghi rất nhiều, đầy đủ
các chức danh. Danh thiếp chỉ cần ba yếu tố anh là ai, làm gì, ở đâu
nhưng những người háo danh lại liệt kê rất nhiều. Như ở các cuốn sách,
trên bìa 4 nhiều người đề rất nhiều chức danh, giải thưởng, gọi là háo
danh thì tôi nghĩ cũng tội cho họ. Rồi có nhiều trường hợp, tôi rất ghét
khi người ta trương rất nhiều chức vụ cùng với tên tác giả trên bìa
sách, đó là cái hư danh, háo danh đáng phê phán.
Còn hiện giờ đang có một bệnh háo danh đó là đua nhau làm kỷ lục quốc
gia, mà việc đó lại được dung túng, đó là trò tôi ghét nhất. Có những
người giữ chức vụ cao, đã về hưu vẫn được đưa vào rất nhiều chức danh.
Nói thực tôi thấy rất phản cảm, khó chịu.
Xin hỏi nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Có người nói Bệnh háo
danh, gian dối hiện nay ở Việt Nam là vô phương cứu chữa bởi ngay từ khi
còn bé tí, nhiều bố mẹ, thầy cô đã tiếp tay cho con háo danh, gian dối:
Đó là cuộc đua danh hiệu học sinh giỏi, phiếu bé ngoan bằng mọi giá; đó
là việc sáng tạo ra nhiều chiêu để ép con 5-6 tuổi sau này phải trở
thành những Ngô Bảo Châu, Đoàn Nguyên Đức… Nhận xét này có đúng? Chúng
ta phải dạy trẻ co như thế nào để chúng không trở thành những kẻ háo
danh?
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Thực ra việc muốn
chứng tỏ mình, bộc lộ mình cũng là một nét tâm lý của con người. Có khác
là anh biểu hiện đến mức nào để một bên là tự hào về mình, một bên là
khoe khoang. Bởi vì con người có quyền tự hào về mình, về những gì mình
làm được để người ta thấy sự tự hào của anh là chính đáng, khiến người
ta noi theo, chứ không biến thành sự hỡm hĩnh khiến người ta khó chịu.
Như trường hợp Ngô Bảo Châu khi anh được giải thưởng danh giá như thế,
anh đã biết bộc lộ sự tự hào của mình trong những lời lẽ, phát ngôn,
việc làm.
 |
Và đó là những con người biết tự hào, công hiến, có văn hóa. Đáng
tiếc là ở nước ta hiện này, trong hệ thống giáo dục cũng như môi trường
xã hội, chưa biết cách tạo được con người văn hóa như vậy. Có nghĩa là
anh phải đào tạo được những con người biết tạo ra giá trị cho mình.
Chúng ta không biết giáo dục những con người biết tự hào, mà lại tạo ra
những con người thích kheo khoang. Bệnh thành tích ở trong nhà trường
chính là cái xô đẩy thầy cô và học sinh chạy theo cái hư danh. Nói khái
quát, chúng ta bắt học sinh chạy theo những cái hư danh, không có, những
cái không phải của mình, ở ngoài mình và lại coi đó là cái thực và cái
thật.
Tôi đồng ý với bạn rằng đây là một căn bệnh trầm trọng của giáo dục
các cấp nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung. Có thể nói đó là
cái lỗi hệ thống cơ bản. Nhưng đã nói như vậy thì hệ thống cũng do chúng
ta tạo ra, xây nên, lỗi cũng do chúng ta phạm phải. Cho nên, nói như
câu nói của Tổng thổng Mỹ Obama “Thay đổi, chúng ta có thể”. Muốn làm
được thế, theo tôi phải có gan, có chí từ các cấp lãnh đạo đến mỗi người
dân. Hình như đây là cái đang thiếu nhất của chúng ta hiện nay. Cho nên
điều đó khiến cho căn bệnh khoe khoang vẫn ngày một lây lan, kéo dài.
Bill Gates không có bằng ĐH mà vẫn rất thành đạt. Tuy nhiên có
người lý giải: Không bằng cấp như Bill Gates thì chỉ có thể thành đạt
trong kinh doanh – kinh tế, còn muốn làm quan chức thì ngay cả ở Mỹ,
cũng cần bằng cấp tử tế. Việt Nam cũng vậy, nếu làm quan chức thì nhất
thiết phải có bằng cấp. Quan điểm này đúng hay sai và nó có cản trở
những người thực tài nhưng thiếu bằng cấp làm việc cho nhà nước?
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Ở trên tôi đã nói ý
rằng có quản lý ở chuyên môn và nhà nước. Không phải nhà chuyên môn nào
cũng có khả năng quản lý. Nên nhớ rằng bậc học tiến sỹ là để nghiên
cứu. Bill Gates cũng là một trường hợp thôi. Cho nên việc ở đây là người
quản lý giỏi phải biết tập hợp những người giỏi, phát huy được năng lực
cao nhất.
Tại sao ở các nước phương Tây, bộ trưởng quốc phòng không nhất thiết
phải là một quân nhân, bộ trưởng giáo dục không nhất thiết phải là một
nhà giáo. Tôi thích một câu nói về quán lý thế này, khi được hỏi về quản
lý ở một cơ quan nước ngoài, ông ta đã trả lời: “Cái tài của tôi là
biết sử dụng người tài hơn tôi”. Còn Bill Gates thành công như thế vì
ông biết tìm công sự, ông chính là người tổ chức, đương nhiên ông phải
có cái tài vốn sẵn rồi.
Nhưng nếu đánh giá theo bằng cấp, ông không được trọng dụng. Vì vậy,
có thể rút ra là môi trường cho người có khả năng thi thô. Trong lĩnh
vực kinh doanh, nhiều ông chủ học hành bình thườn, nhưng lại thành công.
Đó chính là người ta có tài năng, dù không học qua trường lớp. Chúng ta
có chính sách trọng dụng người tài để xua đuổi sự háo danh, hư danh giả
dối, nhưng những người tài bị chính sách ràng buộc.
Thưa ông Phạm Xuân Nguyên, với trình độ của ông thì hoàn toàn
có thể học lấy bằng cấp cao hơn (bằng thực sự), điều đó cũng là hoàn
toàn chính đáng và chắc chắn chẳng ai phản đối nếu ông làm vậy. Vì sao
tới giờ ông vẫn chỉ dừng lại ở bằng cử nhân? (Lý, công an tỉnh Hà Tĩnh)
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Cảm ơn bạn đã hỏi tôi
câu này. Thực ra thì tôi cũng đã từng theo học nghiên cứu sinh nhưng
sau đó thì bỏ. Có lẽ vì những lý do sau. Một là cảm thấy mình không
thích thú chuyện bằng cấp. Hai là cũng có phần chán nản, thất vọng vì
tình trạng học giả lẫn lộn. Ba là vì cảm thấy buồn vì sự lạm phát của
các hệ thống đào tạo, nhất là bậc trên đại học. Nó phản ánh ở chỗ nhiều
khi bằng cấp không phản ánh đúng trình độ thực. Nhưng tóm lại thì tôi
bằng lòng với cái bằng cử nhân của mình.
Và tôi nghĩ những gì tôi viết ra trong quá trình làm nghề phê bình,
nghiên cứu đã được người đọc tiếp nhận và đánh giá theo đúng giá trị
thực của từng câu chữ, chứ không phải ở bậc học cử nhân của tôi. Cũng có
nhiều người, nhiều bạn bè tỏ ít tiếc cho tôi nếu như có một tấm bằng
cao hơn thì sẽ giúp ích được nhiều hơn cho mọi người.
Thí dụ như đi dạy đại học, hay hướng dẫn luận án. Họ bảo tôi rằng ông
ghét cái giả thì ông phải lấy cái thật thay vào chứ. Có thể những điều
họ tiếc cho tôi có phần đúng. Nhưng trong việc đào tạo, nếu biết kết hợp
cả trình độ chuyên gia và trình độ bằng cấp thì sẽ huy động được nhiều
nguồn đóng góp hơn cho người dạy và người học.
Thực tế là cho tới tận bây giờ vẫn còn nhiều bạn trẻ rất thực tế,
họ đi làm và chỉ học những gì cần cho công việc, nhưng cũng có nhiều
sinh viên vừa ra trường là học thạc sĩ ngay (hoặc đi làm một thời gian
rồi học thạc sĩ), mà thực ra chính họ cũng không xác định được mục đích
rõ ràng trong việc học ấy. Từ kinh nghiệm của bản thân, ông Phạm Xuân
Nguyên có lời khuyên gì cho họ không? (Linh, sinh viên trường ĐH Quốc gia)
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Cả hai trường hợp học
ngay hay đi làm một thời gian rồi học thạc sỹ là tùy từng hoàn cảnh của
mỗi người, tùy trường hợp cụ thể. Nhưng thường tôi hay khuyên những
người trẻ nếu có điều kiện học lên luôn thạc sỹ, kết hợp vừa làm vừa học
thạc sỹ. Và có vẻ như hiện nay tốt nghiệp đại học rồi học thạc sỹ đang
là một xu hướng phổ biến và như thế là hay.
Thứ nhất là anh có đà tươi mới khi vừa học xong, vừa kết hợp đi luôn,
kết hợp với một công việc cụ thể ngay. Thực ra là vì quá trình đào tạo
của ta có quy định về thời gian học thạc sỹ, tiến sỹ nhất định. Như các
nước khác, người ta có thể làm luận bất kỳ độ tuổi nào, miễn là anh đăng
ký, và sau khi anh làm, người ta sẽ tổ chức chấm, cho anh bảo vệ nếu
đạt.
Cho nên cũng đặt ra vấn đề nên cải cách quy trình bằng cấp để tạo điều kiện, cơ hội cho mọi người hơn, dù là ở hoàn cảnh nào.
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên có thể cắt nghĩa từ góc độ văn hóa
về hiện tượng quan chức nói dối, háo danh không ạ? Háo danh có phải là
tính xấu đặc trưng nổi bật của người Việt ta? Huyền Anh (Sở KHCN, TP.HCM)
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Ở câu trả lời trên
tôi có nói háo danh dường như là tật cố hữu của người Việt. Theo quan
sát của tôi, rộng ra nó là một đặc điểm của xã hội phương Đông. Xã hội
Việt Nam nằm trong không gian văn hóa Hán, văn hóa Nho giáo. Văn hóa đó,
theo Khổng Tử rất đề cao chính danh. Chính danh đây hiểu như là một vị
thế xã hội.
Ông Khổng Tử có nói “Danh có chính thì ngôn mới thuận”, con người
phải có một vị thế trong xã hội, có thể không phải quyền chức, mà là vị
thế được xã hội thừa nhận, khi đó lời nói của anh mới được xã hội thừa
nhận. Nhưng khi tư tưởng của Khổng Tử ứng vào bộ máy nhà nước của xã hội
phong kiến thì danh lại đi với chữ “quyền”, danh phải đi với lợi, có
danh là có quyền, có lợi. Chế độ khoa cử của các triều đình Trung Quốc
được Việt Nam lấy làm mô hình.
Con người chỉ có một cách tiến thân, muốn có danh phải đi thi, thi
đậu thì ra làm quan, làm quan là có quyền, có bổng lộc. Và nhìn hệ thống
của ta hiện nay vẫn mang nặng tính chất khoa cử của phong kiến ngày
xưa. Cách cất nhắc, bổ nhiệm các chức vụ nhà nước vẫn còn những nét của
ngày xưa, tức là lấy bằng cấp làm tiêu chuẩn.
Từ đó mới đề ra tình trạng chạy bằng, chạy cấp bằng mọi giá từ xưa
cho đến nay. Tôi cũng không rõ là trong chính sách cán bộ có quy định
người cấp nào thì phải có bằng loại nào không, hay nói cách khác có quy
định bằng cấp đi liền với chức vụ ở mọi ngành, mọi nghề, mọi lĩnh vực
không. Nhưng nhìn vào thực tế bổ nhiệm cán bộ thì tôi thấy, dường như
không có bằng cấp thì không được bể nhiệm. Tình trạng chạy đua bằng cấp,
bằng giả miễn sao có tấm bằng chính là vì tâm lý đó.
Cho nên theo tôi một trong những biện pháp có thể ngay chặn háo danh,
bệnh bằng cấp ở ta thì phải xem lại chính sách đề bạt và bổ nhiệm cán
bộ. Ở các cơ quan chuyên môn, có thể người lãnh đạo là người có học vị
chuyên môn, còn ở các cơ quan quản lý, thì cần phải căn cứ vào năng lực,
trình độ quản lý chứ không phải chỉ là cái bằng chuyên môn.
Theo ông, nhà nước cần làm những gì để chữa bệnh háo danh gian
đối cho quan chức? Cá nhân phải làm gì để cai được bệnh nghiện danh? (Phạm Hy Vọng, 20 tuổi, Hải Phòng).
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: Một vấn đề có tính
nguyên tác để chữa căn bệnh này là nhà nước phải đưa toàn bộ hệ thống
giáo dục, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ căn cứ trên thực chất giá trị. Và cụ
thể hơn ở đây là nhà nước phải chấn chỉnh lại hệ thống cấp phát và sử
dụng bằng cấp. Hiện nay đang có tình trạng loạn đào tạo sau đại học, ai
cũng làm thạc sỹ, tiến sỹ được mà tôi không hiểu lảm ra để làm gì.
Nếu như ở ngành này, ngành kia, người ta không thích thôi chứ nếu làm
thì đều được. Có thể bây giờ không phải phổ cập tiểu học nữa mà là phổ
cập tiến sỹ. Cho nên phải siết lại quy trình này để hạn chế những người
có bằng cấp nhưng là bằng không thực chất. Tôi lấy ví dụ, muốn tiến sỹ
phải có ngoại ngữ, nếu làm chặt chẽ chỉ khâu này thôi có thể hạn chế
được rất nhiều.
Về mặt cá nhân, tự ý thức của mỗi người thôi. Nhưng tôi nghĩ người ta
chạy theo vì người ta không làm thì người khác cũng làm nên, cho nên
mấu chốt vẫn là tạo môi trường sạch, dù người ta có ý khoe khoang cũng
không có cơ hội thực hiện. Một điều nữa là các phương tiện truyền thống
cũng có thể góp phần tích cực vào việc này, khi họ đừng biến mình thành
diễn đàn cho các thói hư, tật xấu này phát triển.
Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Quan-chuc-chay-theo-bang-cap-la-hao-danh/60307.gd