Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

“Nổ” chuyện thi quốc tế, ông Nguyễn Lộc An đối mặt với kỷ luật - (DV)

26/09/2011 | 10:07

Vừa kết thúc hội thảo, PGS-TS Ngô Trí Long đã chờ gặp ông An ở cửa phòng họp để hỏi: “Cậu thi toán quốc tế năm nào?”. Nghe ông An trả lời: “Em thi năm 1982 sếp ạ” - ông nói ngay: “Tôi rất biết về đội thi toán quốc tế nhưng chắc chắn năm 1982 không có tên cậu” - ông Long nói.

Ông Nguyễn Lộc An
Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng đã yêu cầu ông Nguyễn Lộc An, Phó vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước, báo cáo bằng văn bản những thông tin gây bức xúc của ông tại cuộc hội thảo về xăng dầu do Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ chủ trì.
Nguồn tin từ Bộ Công Thương cho biết ngay sau buổi làm việc giữa Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng và Bộ Tài chính Vương Đình Huệ tại trụ sở Bộ Công Thương ngày 21.9, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng đã gọi ông Nguyễn Lộc An, Phó vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước, trực tiếp lên gặp bộ trưởng để báo cáo những thông tin ông An nói trong hội thảo về xăng dầu trước đó một ngày.
Sau đó, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng yêu cầu ông Nguyễn Lộc An báo cáo cụ thể bằng văn bản, gửi bộ trưởng vào ngày 26.9. Có thể ông An sẽ phải đối mặt với kỷ luật.
Tại hội thảo về cơ chế điều hành giá xăng do Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ chủ trì ngày 20.9, ông Nguyễn Lộc An đã nói: “Có lẽ Bộ Tài chính chịu sức ép nhiều từ báo chí, dư luận nên giảm giá xăng. Khi nhận được quyết định giảm giá của Bộ Tài chính, tôi hơi giật mình và nghĩ Bộ Tài chính bị làm sao vì tính theo giá nhập khẩu 30 ngày, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đang lỗ”.
 
Bộ trưởng Vương Đình Huệ (trái) chủ trì cuộc hội thảo xăng dầu ngày 20.9
Ông An còn cho rằng, cơ chế giá cơ sở đưa ra để bắt doanh nghiệp làm theo vậy mà doanh nghiệp đang lỗ lại giảm giá.
“Cái sai là do con người chứ không phải chính sách sai. Tôi tuy không giỏi toán lắm nhưng có đi thi toán quốc tế nhưng không hiểu toàn tính ngược thế nào nên bỏ lỗi rất nhiều cơ hội điểu chỉnh giá, trong đó có giảm giá”, ôn An nói trong cuộc hội thảo do Bộ trưởng Vương Đình Huệ chủ trì.
Vừa kết thúc hội thảo, PGS-TS Ngô Trí Long đã chờ gặp ông An ở cửa phòng họp để hỏi: “Cậu thi toán quốc tế năm nào?”.
Nghe ông An trả lời: “Em thi năm 1982 sếp ạ” - ông nói ngay: “Tôi rất biết về đội thi toán quốc tế nhưng chắc chắn năm 1982 không có tên cậu” - ông Long nói.
Ông An đáp lại: “Sếp cứ tìm hiểu thêm thông tin trên mạng đi ạ”.
Trong khi đó, theo thông tin từ Bộ GD-ĐT, từ trước tới nay không có ai tên Nguyễn Lộc An đi thi toán quốc tế.
Theo Người lao động

Vì sao lương công chức thấp?

26/09/2011 00:16

(VTC News) – Do lạm phát cao, bộ máy hành chính hô hào tinh giản nhưng lại “phình to”, chính sách mang nặng tính bình quân.
 
Lương thấp nên “chân ngoài dài”

Theo đánh giá của Bộ Nội vụ, hiện nay, lương của công chức chỉ đảm bảo nhu cầu tối thiểu về chi tiêu thực phẩm, chứ chưa đảm bảo các nhu cầu khác như nhà ở.

Vì vậy đã không thu hút nhiều người tài vào làm trong các cơ quan Nhà nước, hoặc có người tài nhưng họ chưa toàn tâm, toàn ý tập trung vào thực hiện nhiệm vụ công vụ, dẫn đến chất lượng xây dựng thể chế có phần bị hạn chế. Nhiều văn bản pháp quy phải sửa ngay khi ban hành.

Theo Bộ Nội vụ, một số người đã từ bỏ làm việc Nhà nước do chính sách đãi ngộ không đủ giữ họ ở lại.

Bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng viện Lao động – Xã hội nhận định, có không ít người vào Nhà nước vì yếu kém về năng lực, không thể tìm được việc làm khu vực doanh nghiệp; có nhiều người là phụ nữ cần có việc làm ổn định, để có thời gian cho gia đình, cũng có những người vào bộ máy Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng…

Vì sao lương công chức thấp?
 Nhà nước đang cố gắng để công chức phần nào được đảm bảo mức sống
Hệ quả nghiêm trọng về tiền lương thấp, theo đánh giá của Bộ Nội vụ, việc công chức không chấp hành làm việc 8 giờ tại công sở diễn ra phổ biến ở tất cả các cấp; do thu nhập thấp, cán bộ, công chức tìm mọi cách, mọi việc có thể làm để tạo ra thu nhập; nhiều người không chú trọng đến công việc chung, mà chỉ chỉ muốn làm các việc cụ thể liên quan đến nhân sự, tài chính, đất đai…trực tiếp với dân, với doanh nghiệp để có điều kiện nhũng nhiễu, hạch sách.

Từ đó có thêm thu nhập, đảm bảo cuộc sống. Nên dẫn đến tình trạng phân hoá giàu nghèo xảy ra ngay trong nội bộ đội ngũ cán bộ, công chức. Xuất hiện nghịch lý “lương không đủ sống nhưng nhiều người sống đàng hoàng, lương thấp nhưng rất khó vào biên chế”…

Vì đâu?

Trước thực trạng trên, Bộ Nội vụ đã chỉ ra nhiều nguyên nhân hạn chế trong cải cách tiền lương:

Tuy đã có nhiều Nghị quyết về việc cải cách tiền lương nhưng việc thể chế hoá và tổ chức triển khai thực hiện vẫn chưa như ý muốn.

Nhất là khi khủng hoảng và suy thoái kinh tế làm kinh tế nước ta phát triển chưa bền vững, hiệu quả đầu tư chưa cao…nên lạm phát còn cao; làm giảm hiệu quả của những đợt tăng lương.

Mặt khác, các ngành, các cấp chưa quyết tâm theo mục tiêu chung mà còn chú ý đến lợi ích riêng của ngành nên không chú trọng tinh giản biên chế mà còn đề nghị tăng thêm tổ chức, số lượng cán bộ, công chức…dẫn đến đối tượng hưởng lương và trợ cấp ngày một tăng nhưng năng suất và hiệu quả hoạt động công vụ không cao.

Bên cạnh đó, việc giải quyết chính sách tiền lương còn dàn trải, bình quân, chưa tách được giải quyết chính sách bảo hiểm và trợ cấp ưu đãi với người có công. Việc đổi mới tiền lương còn mang tính chắp vá, không đồng bộ.

Chính vì thế, ông Đặng Như Lợi, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội cho rằng, chúng ta nên cắt giảm 40% công chức – viên chức, để bộ máy Nhà nước tinh gọn và có điều kiện cải cách tiền lương.


Đón đọc Bài 2: "Hệ thống bảng lương mới của công chức, viên chức"


Tin liên quan

Hoàng Lan
Chuyện thật như đùa. Các bác làm công chức kêu thì cứ kêu thôi nhưng hỏi lại tại sao người người đua nhau vào làm công chức, nhà nhà đua nhau vào làm công chức, bỏ hàng mấy trăm triệu ra để chạy lấy chỗ làm công chức mà để hàng tháng nhận lương 2 triệu? thử hỏi như vậy có đủ sống không chứ đừng nói nuôi con hay bố mẹ? Thế mà họ mua được nhà đẹp, đi xe sang, đời sống cao ... nên những người đi làm các doanh nghiệp ngoài thu nhập hàng tháp cả 10 triệu đã bằng họ đâu, chạy theo họ còn khó và không thể. Thủ hỏi tại sao? trả lời đi ... Đừng kêu nữa.
(Lê Văn Bình)

Thực ra để giải quyết vấn đề này rất đơn giải. Phải luật hóa các công đoạn quản lý. Minh bạch hóa các thủ tục của nhà nước. Và không được cào bằng lương giữa lãnh đạo và nhân viên. Nhưng chắc phải 200 năm nữa có khi Việt Nam ta mới làm được
(Anh Tuan)

Lương công chức thấp nhưng vẫn đông người vào"người tài và thẳng thắn thì lại ra ngoài làm".Hệ quả nghiêm trọng về tiền lương thấp, theo đánh giá của Bộ Nội vụ, việc công chức không chấp hành làm việc 8 giờ tại công sở diễn ra phổ biến ở tất cả các cấp; do thu nhập thấp, cán bộ, công chức tìm mọi cách, mọi việc có thể làm để tạo ra thu nhập; Đại đa số không chú trọng đến công việc chung, mà chỉ muốn làm các việc cụ thể liên quan đến nhân sự, tài chính, đất đai…trực tiếp với dân, với doanh nghiệp để có điều kiện nhũng nhiễu, hạch sách.ngoài ra các cá nhân xin vào công chức thì đa phần không xin được ở ngoài nên chạy trọt ,lót tay để vào.công việc thì nhàn rỗi,thu nhập ổn định nếu nhiều tiền vào các vị trí tốt thì mấy chốc thu hồi vốn.nên đã nhận thì làm sao cải cách được.người này sợ mếch lòng người kia nên các bộ cứ phềnh ra là vì vậy .mà đã phềnh ra thì lương thấp.mà đã lương thấp thì phải tìm mọi cách để kiếm thêm.đã kiếm thêm thì các bộ lại phềnh ra.Khi nào hết tham nhũng,hối lộ ,đút lót ,thì khi đó sẽ ok
(lê Phong)

Đừng có dọa... - (ANTĐ)


Thứ năm 22/09/2011 09:48
ANTĐ - Đã từ lâu lắm rồi, người viết bài này (và đồ rằng cũng không ít người dân) muốn nghe một câu nói, không nhẹ như bấc, không nặng như chì, mà thật lòng, mà có trách nhiệm của một cán bộ đương chức, đại ý rằng: Tôi xin chịu trách nhiệm cá nhân khi quyết định giảm giá xăng dầu.

Đi nhẹ nói khẽ thì dễ. Chém gió hay nặng lời thì cũng dễ. Dám chịu trách nhiệm cá nhân, về cái việc làm của chính mình mới là cực khó của người làm quan. Chứ còn người dân chịu trách nhiệm cá nhân về mọi hành vi của mình thì là lẽ đương nhiên ở trên đời này rồi.
Chưa biết ông Vương Đình Huệ làm như thế nào, có làm kết quả được hay không nhưng người dân đã mát lòng mát dạ.
Nhìn, nghe ông ăn nói rõ ràng, quả quyết mà nghĩ rằng: Hễ là những người hiểu biết công việc được giao; Hễ là những người không bị chứng bệnh há miệng mắc quai; Hễ là những người dám thật sự hy sinh cho sự thật, vì sự thật của lẽ phải đều có phẩm chất quả quyết như vậy.
Đừng có dọa... lẽ phải. Và phải thêm một câu nữa, đừng có dọa sự mong mỏi của người dân.
Giá cả đã tăng đến kịch trần rồi. Giá xăng dầu không giảm thì giá cả sẽ cháy cả đáy nồi cơm của người dân.
Doanh nghiệp xăng dầu hầu như 100% là doanh nghiệp nhà nước. Mà nhà nước ở ta là nhà nước của dân. Thế nên tại sao lại cứ  tính lãi lờ với dân. Tính cho đủ chi phí, lương thưởng cho đúng quy định, dành dụm vốn liếng để phát triển theo kế hoạch của nhà nước. Còn mục tiêu không thể thoái thác, không thể cò kè là phục vụ người dân, vì quốc kế dân sinh.
Xin mượn lời ông Chu Gia Huấn đăng trên báo ANTĐ mà kết lại đôi lời: Hoan hô ông Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ và cũng xin nhắc lại lời ông Huệ: Đừng có dọa...
Minh Quang

HOÀNG CẦM VÀ LÁ DIÊU BÔNG



Rate This
NGUYỄN TRỌNG TẠO

Hoàng Cầm và NTT 1995 - Ảnh Nguyễn Đình Toán
Nước ta có ba Hoàng Cầm đều rất nổi tiếng, đó là Hoàng Cầm tướng, Hoàng Cầm bếp và Hoàng Cầm thơ. Trong bài viết này tôi chỉ nói tới một trong ba ông Hoàng đó: nhà thơ Hoàng Cầm.
Nhà thơ Hoàng Cầm năm nay (1993 – NTT) đã ngoài bảy mươi, ông đã sáng tác ngót nghìn bài thơ, có bài được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thưởng huân chương tại trận trong chiến dịch Điện Biên Phủ, và cũng có bài làm cho đời ông điêu đứng bị xuyên tạc, bị kiểm thảo, cải tạo, bị vào nhà đá. Nhưng thôi, nhắc lại chuyện buồn làm gì nữa, mấy năm nay những bài thơ “rắc rối” ấy cũng đã được in ra. Và chúng ta lại có thêm một Hoàng Cầm Lá Diêu Bông tiếp nối Hoàng Cầm bên kia sông Đuống lừng lẫy một thời. Theo ông thì chính bài thơ Lá Diêu Bông mới thực sự là bài thơ quan trọng của đời ông, nó đưa nghệ thuật thơ Hoàng Cầm đạt tới đỉnh cao trong toàn bộ sáng tác của mình. Nhưng khi trò chuyện với ông, tôi được ông cho biết: Đấy không phải là bài thơ do ông làm ra. Tôi không khỏi ngạc nhiên, đề nghị ông giải thích rõ hơn về điều này. Hoàng Cầm rít một hơi thuốc lào thật kêu, thong thả phả khói, rồi ông rủ rỉ kể lại rằng:
 -  Vào một đêm mùa đông năm 1959 trời rét lắm, tôi nằm tại nhà riêng (43 Lý Quốc Sư, Hà Nội) mà không sao ngủ được. Quá nửa đêm, vợ tôi nằm bên cạnh đã ngủ say lắm rồi. Tôi nằm trằn trọc mãi, trong tay vẫn còn nguyên tập giấy và cây bút mà tôi vẫn cầm theo thói quen trước lúc đi ngủ. Bỗng tôi nghe văng vẳng bên tai một giọng nữ rất trong trẻo, nhưng không phân biệt được là giọng của ai. Cái giọng nữ trong trẻo ấy cứ đọc lên rành rọt từng lời một, và tôi nghiêng người về phía ngọn đèn ngủ 6 oát chép tốc ký toàn bộ bài thơ này. Khi giọng đọc ngừng hẳn, không còn gì để ghi nữa, tôi cầm nguyên giấy bút như vậy ngủ thiếp đi. Sáng dậy, tôi phải sắp xếp lại những chữ xiêu vẹo đã may mắn ghi được trong đêm. Thế là tôi có trong tay bài thơ Lá Diêu Bông  như sau này các bạn đã đọc được. Vậy thì nó là bài thơ không phải của tôi làm, mà là của một thần linh nào đấy đã nhờ tôi chép lại mà thôi.
Tôi tin giọng kể chân thành của ông, và tôi cũng tìm cách để lý giải về điều đó:
 - Trường hợp của anh làm tôi nhớ lại một câu thơ của Hàn Mặc Tử: “Thơ có tuổi và chiêm bao có tích”. Tôi cho rằng anh đã làm bài thơ Lá Diêu Bông trong chiêm bao. Vậy anh có thể biết rõ cái “tích” của giấc chiêm bao này?

Hoàng Cầm, 1999 - Ảnh: Nguyễn Đình Toán
 -  Đúng như vậy, sau khi có bài Lá Diêu Bông rồi, tôi cứ thường nhớ về một mối tình thật đẹp bắt đầu từ năm tôi lên 8 tuổi. Đấy là một buổi chiều thứ bảy, tôi trọ học trên tỉnh về thăm nhà. Nhà tôi bên cạnh một cái ga xép, có mấy cái quán quê lèo tèo bên đường số 1. Mẹ tôi cũng có một cái quán hàng xén. Tôi vừa bước vào ngõ thì thấy một cô gái đang cúi mua gì đó chỗ quán mẹ tôi. Nắng chiều chênh chếch vào hai bắp chân thật đẹp dưới váy cô. Bỗng cô ngoảnh mặt lại nhìn tôi, và tôi cũng nhìn vào gương mặt kiêu sa của cô. Lập tức tôi thấy mình choáng váng, sự choáng váng mà sau này tôi biết là người ta vẫn gọi là tiếng sét ái tình. Đúng như vậy, đấy là cú choáng của tình yêu nam nữ thực sự. Sau đó tôi được biết cô gái tên là Vinh, 16 tuổi – hơn tôi đến 8 tuổi. Chị Vinh – tôi vẫn gọi chị như vậy – mồ côi cha, sống với mẹ và em nhỏ trong căn nhà bên kia đường. Mỗi tuần về nhà một lần, tôi thường đứng thơ thẩn trước ngõ ngóng sang nhà chị, mong được nhìn thấy chị. Và hễ trông thấy chị là tâm hồn tôi bỗng rạo rực, lâng lâng đến khó tả. Người ta nói như vậy là đã phải lòng rồi. Lên tỉnh, tôi thường nhớ chị, và tôi đã làm một bài thơ về chị. Bài thơ lục bát, có đầu đề là “Gửi chị Vinh của em”. Bài thơ của tuổi học trò tôi không còn nhớ gì nữa, nhưng đấy là bài thơ đầu tiên của đời tôi.
 -  Dĩ nhiên là nội dung bài thơ ấy không liên quan gì tới cái lá Diêu Bông sau này?
 -  Tôi cũng không rõ là nó có liên quan hay không, nhưng những rung động của “mối tình đầu” ấy thì còn lại âm hưởng rất rõ ràng trong tôi. Đặc biệt là ấn tượng của lần cuối cùng gặp chị, năm tôi 12 tuổi. Đấy là một buổi chiều đông, đang chơi thơ thẩn trước ngõ tôi bỗng thấy chị Vinh đi từ nhà ra phía cánh đồng đã gặt, chỉ còn nhấp nhô cuống rạ. Tôi bám theo chị. Chị mặc áo lụa đã bạc màu, yếm cánh sen và chiếc váy vùng Đình Bảng gấp nhiều li buông chùng như võng. Mỗi bước đi của chị làm cho chiếc váy lượn dập dờn như sóng, để lộ hai gót chân trắng như ngó cần. Mái tóc chị mới gội, buông xoã, toả mùi thơm của bồ kết, hương nhu đầy quyến rũ. Chị đi tìm một cái gì đó trong những bụi cây lúp xúp dọc bờ ruộng. Bỗng chị quay lại ngạc nhiên nhìn thấy tôi, và mắng yêu: “Ơ, sao mày đi theo tao lẵng nhẵng mãi thế nhỉ?”. Lời mắng của chị không làm cho tôi sợ, mà ngược lại, nó làm cho mặt tôi nóng ran lên, và tôi thấy toàn thân bỗng ấm áp và dễ chịu vô cùng. Đến một gò đất, chị lại vạch cây để tìm cái gì đó. Tôi bước lên gần chị, mạnh dạn hỏi: “Chị tìm cái gì đấy, chị Vinh?”. Chị Vinh ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt tôi, chị vừa như đùa, vừa như xa xôi: “Chị đi tìm cái lá… (Chị nói tên một cái lá gì đó nhưng tôi không sao nhớ nổi). Đứa nào tìm được cái lá ấy, ta gọi là chồng”. Tôi nhìn vào mắt chị và cảm thấy như lạc vào mê cung. Tâm hồn tôi bỗng bay bổng, phiêu diêu trên chín tầng mây. Nhưng chị lại tiếp tục đi tìm, có thể chị tìm một cái lá thuốc nào đấy mà không tìm được. Gần tối, chị bảo: “Thôi, ta đi về đi em”. Rồi chị dắt tay tôi đi trên đồng chiều còn trơ cuống rạ lạnh se. Sáng hôm sau, tôi ra tàu lên tỉnh và xa chị từ đó… Hoàng Cầm ngừng kể, rút một hơi thuốc lào, mắt lim dim chìm vào làn khói, rồi ông nói: Có thể đấy là cái “tích” của giấc chiêm bao lá Diêu Bông!
 -  Đã là chiêm bao thì nó thuộc vào thế giới huyền ảo thôi. Nhưng cái tên lá là Diêu Bông thì chắc anh giải thích được chứ?
 -  Tôi chịu. Vì trong cuộc đời thực làm gì có lá Diêu Bông. Chả thế mà sau đó Bùi Minh Quốc đã làm một bài thơ mở đầu bằng câu: “Thôi ta chẳng thèm tìm lá Diêu Bông”…
 -  Còn Thanh Thảo thì lại reo lên: “Chết mẹ đây rồi cái lá Diêu Bông?”.
 -  Rắc rối thế đấy. Bài thơ Lá Diêu Bông cũng đã gây rắc rồi cho tôi một dạo. Có người bảo, đấy là tại tôi đã báng bổ thánh thần, dám đưa mép váy lên ngang với cửa võng là cửa điện thờ thần thánh linh thiêng, nên tôi đã bị thần thánh trừng trị, và tôi đã phải trả giá nặng nề. Nhưng nào tôi có ý báng bổ gì đâu, tôi chỉ chép lại bài thơ trong chiêm bao đó thôi.
 -  Và cũng chỉ để tặng chị Vinh của mấy chục năm về trước… Nghe nói sau này anh có gặp lại chị Vinh, đúng thế không?
 -  Không những gặp lại, mà chúng tôi còn chụp chung với nhau một tấm ảnh kỷ niệm. Lúc ấy (sau khi bài Lá Diêu Bông được Tạo đưa in lần đầu tiên trên tạp chí Sông Hương, 1988), chị Vinh đã ngoài bảy mươi tuổi rồi, còn tôi thì tóc cũng đã bạc trắng. Một tờ báo đã đăng bức ảnh này và coi chúng tôi là 2 nhân vật Chị và Em của bài thơ. Bây giờ thì chị đã không còn nữa…
Hoàng Cầm bỗng im lặng dài trong một nỗi buồn mênh mông xa vắng. Tôi thì thầm nhẩm lại bài thơ. Đến câu cuối, ông bỗng cao hứng hoạ theo bằng một “giọng ngâm vàng” trời phú, nghe như từ một cõi xa xôi huyền bí nào vọng lại:
Từ thuở ấy Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió quê vi vút gọi
Diêu bông hời… ới diêu bông…
Huế, 5 – 1993

Hãy bắt đầu từ việc nhỏ! - (Thời báo Kinh tế Sài Gòn online)

Nguyễn Văn Mỹ
Thứ Sáu,  23/9/2011, 10:14 (GMT+7)
 

 

 

 


(TBKTSG) - Năm học 2011-2012 vừa khai giảng. TPHCM và cả nước có thêm nhiều trường học mới. Dù chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội nhưng điều này cũng thể hiện được sự nỗ lực của Nhà nước. Trong số các trường mới, có trường PTCS Thoại Ngọc Hầu ở quận Tân Phú. Truy cập một tờ báo điện tử, đang đọc phần tin “Khánh thành trường Thoại Ngọc Hầu và khai giảng năm học mới”, thì cháu bé học lớp 4, con người bạn theo bố đến chơi, buột miệng hỏi: “Bác ơi! Thoại Ngọc Hầu là ai vậy?” - “Cháu thử đoán xem sao?” - “Ông ấy chắc có tên là Hầu và họ là Thoại.
Mà họ Thoại cháu chưa nghe bao giờ bác ạ!”. Tôi cố giải thích cho cháu hiểu về danh nhân Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, cháu chăm chú lắng nghe rồi hỏi lại: “Sao người ta không đặt tên trường là Nguyễn Văn Thoại hoặc Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại hả bác!”. Cái này thì tôi chịu thua, không trả lời được.
Tôi nghĩ, chắc chắn không ít trẻ em và cả người lớn đã thắc mắc như vậy. Gọi Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại là Thoại Ngọc Hầu là cách gọi dân gian, kiểu khẩu ngữ, không thể hiện sự tôn trọng cần thiết, đặc biệt với tiền nhân. Thiết nghĩ giáo dục là phải mẫu mực, nền nếp và chính xác, chứ không phải ăn nói thế nào cũng được. Nói năng kiểu đó làm sao dạy học sinh lễ phép và kính trọng?
Mà nào phải chỉ Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại là “nạn nhân” của sự tùy tiện như vậy. Tên trường và tên đường hiện nay đầy dẫy sự khinh thường danh nhân hoặc rập khuôn cách gọi của người Trung Quốc. Nào Nguyễn Tiểu La (Tiểu La Nguyễn Thành), Đề Thám (Đề Lĩnh Hoàng Hoa Thám), Trần Hưng Đạo (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn), Thủ Khoa Huân (Thủ Khoa Nguyễn Hữu Huân), Tú Xương (Tú Tài Trần Kế Xương), Tán Thuật (Tán Tương Nguyễn Thiện Thuật), Đội Cấn (Đội Lính Trịnh Văn Cấn)... Rồi còn cách gọi lạ lùng kiểu Ký Con (Đoàn Trần Nghiệp, vốn là thư ký, nhỏ con), Đồng Đen (hỗn danh của anh hùng Nguyễn Văn Kịp), Út Tịch (anh hùng Nguyễn Thị Tịch)... Một dân tộc tự chủ, một nền văn hóa độc lập không thể có cách viết, cách gọi lai căng như vậy.
Có mấy bạn sinh viên nước ngoài học tiếng Việt ở trường Đại học Sư phạm và trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hỏi tôi: “Sao gọi Hồ Chí Minh là Bác Hồ, Tôn Đức Thắng là Bác Tôn mà những người khác thì gọi theo tên. Sao Bill Clinton thì gọi là cựu Tổng thống mà Võ Chí Công lại gọi nguyên Chủ tịch nước…”. Thú thật, tôi đã hỏi nhiều người, người thì lắc đầu cười, người thì suy diễn theo cách của mình, chẳng ai giống ai.
“Phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Đó không chỉ là mong ước mà còn là mệnh lệnh của tổ tiên. Nói năng tùy tiện kiểu đó thì người Việt cũng không hiểu được chứ đừng nói người nước ngoài. Nhiều người bảo tôi lý sự, lắm chuyện, việc nhỏ, đâu chết ai. Thưa vâng, không chết ngay mà chết dần mòn. Đừng xem thường việc nhỏ. Lỗ nhỏ làm đắm thuyền. Cái gì làm được thì làm ngay. Cái gì sửa được thì sửa liền, việc lớn chưa làm được thì hãy bắt đầu từ việc nhỏ. Mong lắm thay!

Những bất ổn về nguồn nhân lực và hậu quả của giáo dục Việt Nam

Tamnhin.net) - Một định nghĩa đơn giản là “ thị trường” là nơi đánh giá đúng giá trị của “hàng hóa, sản phẩm được đem ra trao đổi và sử dụng, như vậy đối với nguồn nhân lực hay gọi là “thị trường lao động” thì ở đây con người đã trở thành “hàng hóa“.




Thứ hàng hóa đặc biệt này hiển nhiên nó được áp dụng ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội từ lao động tri thức, lao động phổ thông đến các lĩnh vực văn hóa thể thao, vui chơi giải trí (giá trị của sản phẩm này) đều được đánh giá một cách thực tế và quy ra "tiền tệ" thể hiện bằng thu nhập cá nhân và thu nhập bình quân đầu người đối với một quốc gia. Nó cũng thể hiện được tính chất, bản chất và chất lượng của hệ thống cung cấp nguồn nhân lực đó là chất lượng (giáo dục và đào tạo của một quốc gia).

Điểm qua về nguồn nhân lực của Việt Nam

Có một nhận định trên thương trường quốc tế của các nhà đầu tư mà theo tôi nó rất "thật" và rất "buồn" đó là  thị trường Việt Nam có thế mạnh và có thể thắng nếu đầu tư vì có “ nguồn nhân công rẻ mạt". Rồi chúng ta cũng ra sức lấy nó để kêu gọi các nhà đầu tư hãy "đầu tư vào Việt Nam”.

Tại sao lại phải lấy cái yếu kém ấy mà làm thành thế mạnh nhỉ? Mà trong lịch sử oai hùng của dân tộc thì trí tuệ và sức mạnh của người Việt Nam có đến mức ấy đâu? Có phải chăng chúng ta đã đánh giá chưa đúng về nguồn nhân lực của Việt Nam không hay vì một mục tiêu khác mà chúng ta đã quên đi một thứ rất quan trọng và tự hào về  “Con người Việt Nam”.

Nhưng chúng ta cũng phải cần xem lại tại sao lại có sự bất cập ấy,nguyên nhân nào, hay nguồn nhân lực ở Việt Nam xuất phát từ đâu và đang ở trong tình trạng nào? Vì dân gian vẫn có câu “không có lửa thì làm sao có khói hay có bột thì mới gột nên hồ”.

Ai cũng biết nền kinh tế nước ta là kinh tế nông nghiệp, theo thống kê dân số của cả nước là hơn 85 triệu dân mà nông dân chiếm khoảng hơn 60 triệu người, như vậy chiếm khoảng  từ 73 đến 75 % dân số của cả nước. Nói vậy, ắt là nguồn nhân lực của chúng ta có nguồn gốc từ nông dân rồi. Nhiều khi dân thành thị vẫn gọi là “dân nhà quê”. Nhưng thực tế nếu một nền giáo dục phát triển và có chất lượng thì người nhà quê hay nông dân đều là người Việt Nam và đều có trí tuệ và sức lao động sáng tạo không thua kém gì người thành thị cả, nhưng đặc thù ấy đã làm nên cái điểm mạnh thường quân để thế giới nhìn vào và nhận định để đầu tư?

Mặt khác, hiện nay chúng ta thấy đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, mỗi năm nhà nước thu hồi khoảng 72 nghìn ha đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, xây dựng đô thị mới mà đặc thù là theo quy hoạch treo và lợi ích nhóm dẫn đến người cày mất ruộng và nguồn nhân lực nông thôn lại có dịp thất nghiệp để sa vào tệ nạn xã hội, đến mức các cụ nhà ta phải nói rằng ”bao giờ cho đến ngày xưa”.

Vì nguồn nhân lực trong nông thôn không được khai thác, đào tạo, nên một bộ phận nhân dân ở nông thôn không có việc làm và tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" ở các doanh nghiệp hiện nay đang tăng nhanh và phổ biến (đó cũng là hậu quả của chế độ, phương thức,chất lượng  của hệ thống giáo dục của ta còn nhiều bất cập như hiện nay chất lượng đào tạo ở nông thôn có thể nói chưa thể phổ cập cấp ba được vì “rất nhiều học sinh còn ngồi nhầm chỗ”.Kết luận đánh giá chất lượng đào tạo của hệ thống giáo dục thì mang nặng tính hình thức không thực chất.

Ở chương trình đào tạo cao hơn thì mang nặng yếu tố bằng cấp (ta phổ cập, nâng cấp hệ thống giáo dục đại học nhưng ta không chú ý đến "chất lượng" của nó do vậy ai vào trường rồi cũng ra trường và thế là cử nhân cứ như "cỏ dại" kiến thức học tập chẳng có  thì làm sao đi vào thực tế lao động được. Người ta vẫn nói "nhiệt tình cộng với ngu dốt thành phá hoại, Hơn nữa, trong giáo dục lại tồn tại tình trạng "xôi chấm xôi", rồi tình trạng chưa hết cấp 3 đã học chương trình đại học, như vậy lấy đâu ra nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do chính sách đối với nguồn nhân lực đặc biệt là chu trình đào tạo chưa rõ ràng và không có quy chuẩn:

Nếu tính sinh viên đại học và cao đẳng trở lên được xem là trí thức, thì đội ngũ trí thức Việt Nam trong những năm gần đây tăng nhanh đột biến. Riêng sinh viên đại học và cao đẳng phát triển nhanh và chúng ta cũng thấy có đến mười mấy nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; hàng chục ngàn giáo sư; phó giáo sư; hàng trăm ngàn thạc sĩ, cán bộ hoạt động khoa học và công nghệ; Đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài, hiệncũng có vài trăm nghìn người. Mà xét về số lượng trường đại học tăng nhanh khủng khiếp. Nó mọc ở khắp 63/64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với mật độ phổ cập đông nhất thế giới.

Vậy tại sao lại có nguồn nhân lực "rẻ mạt?

Phải chăng là chất lượng đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực quá kém, quá thấp mà chỉ phát triển theo chiều rộng không theo chiều sâu hay là do bệnh hình thức hoặc áp dụng chính sách của nền kinh tế tăng trưởng trên giấy kiểu “tăng trưởng là tăng nợ “ đối với cả nguồn nhân lực chăng?

Bên cạnh sự tăng nhanh từ nguồn nhân lực trí thức, công chức, viên chức đã dẫn ra trên đây, thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức còn quá yếu. Có người tính rằng, hiện vẫn còn khoảng 80% số công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan công quyền chưa hội đủ những tiêu chuẩn của một công chức, viên chức như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công việc. Theo ý kiến của một lãnh đạo bộ chuyên ngành cho rằng hiện nay “số lượng người tài vào làm công chức, viên chức, quản lý ở các cơ quan công quyền là rất hiếm có thể nói là không có “vì chế độ, chính sách và vì quan niệm,phương thức tuyển dụng, sử dụng lao động của hệ thống cơ quan này do vậy mới có chuyện “những nhà hoạch định ra chính sách rất “ưu tú“ mà người ta vẫn nói là ”thằng dốt vạch ra cho thằng giỏi thực hiện”! Thử hỏi hiệu quả của việc áp dụng những "tác phẩm" được gọi là chính sách hay văn bản này đến đâu nếu người sử dụng cho là không đủ " tầm" và cũng không "hợp lý".

Mặt khác chất lượng đào tạo quá thấp dẫn đến sinh viên ra trường không có nơi nhận vào làm, mà nếu nhận vào phải mất 1-2 năm đào tạo lại. Hơn nữa bằng cấp đào tạo ở Việt Nam chưa được thị trường lao động quốc tế thừa nhận thì đã đành nhưng đến nay ngay cả thị trường trong nước cũng "xem lại" việc đào tạo này thì quả là đáng báo động “không tự chủ được cả trên sân nhà “ giống như các sản phẩm hàng hóa khác thì thực sự nguồn nhân lực Việt Nam cần tái cơ cấu và tái sản xuất lại càng nhanh càng tốt.

Như vậy nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức (trong đó có công chức, viên chức) ở Việt Nam, nhìn chung, còn nhiều bất cập. Sự bất cập này đã ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế. Trong những năm đổi mới, kinh tế đất nước tuy có tăng từ 7,5 đến 8%, nhưng so với kinh tế thế giới thì ta còn thua kém nhiều.
Khi đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam ta thấy có những nét "rất riêng" vì nó có quy trình sản xuất cũng rất riêng như sau:

- Nguồn nhân lực ở Việt Nam rất lớn rất dồi dào nhưng chưa được “quy hoạch”, chưa được khai thác, với quy trình đào tạo hiện đại nửa vời, có thể nói một số đối tượng còn chưa được đào tạo.

- Chất lượng thấp, mâu thuẫn giữa lượng và chất cao dẫn đến khi sử dụng thì “thừa thầy thiếu thợ”

- Phát triển không đồng đều có yếu tố chia cắt và phân vùng kiểu hành chính, thiếu sự cộng lực và hợp tác, còn thiếu và rất yếu tính chất tham gia công việc nhóm hay tập thể.


Để có được những nhận định trên đây tôi thấy rằng thực tế vì chúng ta chưa đánh giá đúng thực chất nền tảng của sự phát triển kinh tế đất nước là gì ? Chúng ta vẫn tự hào "đất nước hình chữ S này là rừng vàng biển bạc”, mà không coi trọng đến yếu tố hay tài nguyên lớn và đáng tự hào nhất và có thế xây dựng, cải tạo và phát triển được đó là con người nguồn nhân lực Việt.

Chính vì vậy trước hết cần phải xác định rõ nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn và rừng vàng, biển bạc khai thác rồi sẽ hết nếu không nói là cạn kiệt thì ta cần phải lấy nguồn nhân lực làm tài nguyên thay thế, gọi là tài nguyên con người. Hãy xây dựng và đào tạo con người Việt với tâm hồn Việt và năng lực Việt để đem ra thị trường thế giới mà cạnh tranh (như người Nhật, người Hàn.. người ta đã làm trong suốt những năm qua).

Để có được điều ấy để bảo vệ và phát triển cũng như nâng cao chất chất lượng nguồn nhân lực thì trước hết cần nâng chất lượng cuộc sống. Chất lượng con người về sức khỏe của ngành y tế thể hiện khâu tạo nguồn tốt, rồi đến khâu chăm sóc có quy định và tiêu chuẩn, phải nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần để con người sinh ra, bảo đảm cho họ có thể lực dồi dào, có trí tuệ minh mẫn, đó là chất lượng sống của trẻ thơ.

Mặt khác, cần làm rõ nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và giao nhiệm vụ ấy cho các cơ quan bộ ngành và có biện pháp giải quyết hiệu quả những vấn đề này nó có tính vừa cấp bách, vừa lâu dài, trong đó có vấn đề khai thác, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực thì cần phải chú trọng đến yếu tố “chất lượng” của sản phẩm đặc biệt này.

Đồng thời chúng ta cần có chính sách rõ ràng, minh bạch, đúng đắn đối với việc việc sử dụng nguồn nhân lực hợp lý, hãy trọng dụng nhân tài, trọng dụng các nhà khoa học và chuyên gia thật sự có tài năng cống hiến cho đất nước chứ không phải là “tài giả” hay là sử dụng kiểu phong kiến vua chúa trước kia với chế độ “cha chuyền con nối” như câu ca dân gian “con vua thì tại làm vua, con sãi nhà chùa lại quét lá đa“. Vì rằng mục tiêu của chúng ta là định hướng phát triển đất nước hiện đại, tiên tiến và của toàn dân chứ không phải của một nhóm người như chế độ cũ.

Chúng ta phải giải quyết được vấn đề này một cách rõ ràng, thì nhân tài của đất nước sẽ lại tìm về tổ ấm vì “Quê hương là chùm khế ngọt”, chứ không phải là nhân tài như “lá mùa thu“ thời xưa nữa. Đồng thời phải thực hiện quét sạch những con người cơ hội, “ăn theo nói leo”, xu nịnh, bợ đỡ tồn tại trong các cơ quan công quyền.

Người dân Việt Nam rất nhạy cảm và tinh tế họ hiểu và biết được họ đang làm gì nhưng họ cũng rất cần một chính sách và đường lối để chỉ dẫn cho họ đường đi rõ ràng, minh bạch và vì dân vì đất nước nhất là giới tri thức.

Vấn đề cần bàn và cần làm ngay để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là phải định giá được chính giá trị của nó trên thực tế. Thể hiện được tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực của nước ta là nhiệm vụ hàng đầu của chính người dân (phải thể hiện được với thế giới rằng ta là người Việt Nam có tầm cao và trí tuệ Việt“. Vì ta được sinh ra trên đất Việt được sống, học tập, nghiên cứu bằng tiền và chất lượng đào tạo Việt. Khi nào ta thắng cả trên sân nhà và trên sân khách về chất lượng nguồn nhân lực thì ta mới nghĩ tới thành công.

Mới đây Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho biết có học có hơn, vì số người thất nghiệp hiện nay phần lớn là những người chỉ học hết trung học và không có tay nghề. Vì vậy các cơ quan chức năng phải có chính sách, biện pháp kết hợp thật tốt giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao,phục vụ cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Lấy chất lượng nguồn nhân lực là chất lượng của sản phẩm con người Việt chứ đừng lấy tăng trưởng theo số lượng “bằng cấp” làm mục tiêu và sử dụng.
Mai Huy

Giảm tải hay chỉ là điều chỉnh sách giáo khoa? - (Lao Động)



Chủ Nhật, 25.9.2011 | 21:58 (GMT + 7)
Đến thời điểm này, tài liệu hướng dẫn giảm tải đã được triển khai tại các Sở GDĐT trên cả nước. Nhận xét bước đầu của những người trực tiếp đứng lớp cho biết, giảm tải chưa thật sự có ý nghĩa, đặc biệt ở khối THCS và THPT. 
Chỉ giảm được 1,5 tiết
Nhiều giáo viên cho biết, tài liệu hướng dẫn giảm tải hiện nay mới chỉ lược bớt nội dung một cách cơ học.
Theo hướng dẫn giảm tải của Bộ GDĐT, lượng kiến thức giảm nhiều nhất là ở khối 12 với tỷ lệ giảm 11% ở học kỳ I và 12,5% ở học kỳ II. Thế nhưng, nếu xét riêng lẻ từng môn sẽ thấy, tỷ lệ giảm này là không đáng kể. Như bài “Nhân vật giao tiếp” (sách Ngữ văn lớp 12 tập 2) trước đây được giáo viên dạy trong 2 tiết, nay chuyển sang hình thức dạy “Tự học có hướng dẫn” với thời lượng khoảng nửa tiết. Như vậy, môn ngữ văn 12 với thời lượng cũ là 105 tiết cả năm, nay được giảm tải 1,5 tiết.
Cũng như vậy, thời lượng của môn ngữ văn lớp 11 là 123 tiết/cả năm học thì nay được giảm tải 3 bài, có bài chỉ được điều chỉnh phần chú thích. 
Đối với môn toán, GS Văn Như Cương cho biết, tài liệu giảm tải chỉ áp dụng với chương trình chuẩn nhưng lại bỏ qua chương trình nâng cao, trong khi số tiết của chương trình nâng cao nhiều và nặng hơn chương trình chuẩn. Mặc dù đã có giảm tải nhưng vẫn còn nhiều bài, thậm chí cả mảng kiến thức không cần thiết, quá khó đối với học sinh phổ thông nhưng không được cắt giảm như số phức, phép biến hình…
Chưa hợp lý
Nhiều giáo viên trực tiếp thực hiện tài liệu giảm tải cho biết, tài liệu chưa hợp lý. Bài cần giảm thì không được cắt, trong khi những bài cần thiết, mang nội dung cơ bản thì lại bị yêu cầu cắt bỏ.
Ví dụ như đối với chương trình ngữ văn ở THCS, nhiều giáo viên cho biết, phần nghị luận về hiện tượng xã hội và nghị luận về tư tưởng xã hội quá khó, trừu tượng với học sinh lứa tuổi này, cần được cắt bỏ thì không được tinh giảm. Bộ GDĐT lại yêu cầu tinh giảm cách làm văn nghị luận, văn chứng minh của lớp 6, 7, chỉ yêu cầu học sinh biết khái niệm sơ lược. Trong khi đó, đến lớp 8, các em lại phải học văn chứng minh, giải thích. Cô L.A, giáo viên Trường THCS Đống Đa cho biết, đây là điều không hợp lý. Nếu học sinh chỉ biết một cách sơ lược về khái niệm văn nghị luận, chứng minh mà không được thực hành thì sẽ không thể làm được bài, không nắm được kỹ năng viết văn chứng minh, giải thích. Như vậy đến lớp 8, các em sẽ phải học lại kỹ năng này. Chính vì thế, nhiều giáo viên rất lúng túng không hiểu phải tinh giảm thế nào để các em vẫn có được nền kiến thức cơ bản cho các lớp học kế tiếp.
Tương tự như vậy, ở môn Sinh học lớp 12, các giáo viên cho rằng, bài "Quy luật di truyền của Mendel" là bài học quá khó nhưng lại không được cắt giảm, trong khi bài "Thuyết tiến hóa của Lamac" là phần quan trọng giúp học sinh có căn cứ để so sánh với các học thuyết sau lại bị cắt bỏ.
Thầy Đ.C (giáo viên Lịch sử Trường THPT Lương Thế Vinh) cho biết, môn Lịch sử cũng được giảm tải ở mức độ vừa phải, thế nhưng lại không giảm hẳn từng bài mà lại cắt cúp từng phần trong một số bài khiến giáo viên khá lúng túng.  
Ông Vũ Đình Chuẩn, Vụ trường Vụ THPT (Bộ GDĐT) cho biết, việc giảm tải là bỏ bớt nội dung chưa cần thiết, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức thuận lợi hơn, đồng thời giáo viên có điều kiện đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá học sinh. Thế nhưng, theo đánh giá của nhiều giáo viên, việc cắt giảm này còn nhỏ lẻ và vụn vặt, chỉ có thể gọi là “điều chỉnh SGK” chứ chưa thể gọi là “giảm tải”.
Nguyên Minh