Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2014

Tránh xa thầy tà, bạn xấu

Tránh xa thầy tà, bạn xấu

Là người con Phật, ai cũng nguyện trọn đời quy y Tăng và nhất quyết không quy y thầy tà, bạn xấu. Dĩ nhiên, với tâm từ, chúng ta không trách móc hay oán hận hoặc tẩy chay bất cứ vị thầy, bạn nào không xứng đáng nhưng quyết không thân cận, hợp tác với họ, vì Thế Tôn đã từng khuyến cáo “chớ cùng ác tri thức tùng sự”.
Thời Thế Tôn tại thế, bấy giờ Ðề-bà-đạt-đa manh tâm hại Phật, chia rẽ Tăng đoàn. Trong một lần khất thực, lúc sắp chạm mặt với Ðề-bà-đạt-đa, Thế Tôn đã quyết định tránh duyên, không gặp vì một lẽ đơn giản là “kẻ ác này chẳng nên gặp gỡ”. Dĩ nhiên là Thế Tôn đã tìm đủ mọi cách để giáo huấn Ðề-bà-đạt-đa hồi tâm, phục thiện nhưng không kết quả thì phải tránh duyên mà thôi. Pháp thoại dưới đây đã cho chúng ta một bài học về ứng xử tuyệt vời đối với “thầy tà, bạn xấu”.
“Một thời Phật ở thành La-duyệt tại vườn trúc Ca-lan-đà, cùng với năm trăm đại chúng Tỳ-kheo.
Bấy giờ Thế Tôn đến giờ, đắp y ôm bát vào thành La-duyệt khất thực. Lúc đó, Ðề-bà-đạt-đa cũng vào thành khất thực. Ðề-bà-đạt-đa đi vào trong ngõ xóm, Phật cũng đến chỗ đó. Nhưng Phật từ xa trông thấy Ðề-bà-đạt-đa đến liền muốn thối lui mà đi.
Khi ấy A-nan bạch Phật: Cớ sao muốn xa lìa xóm này?
Thế Tôn bảo: Nay Ðề-bà-đạt-đa ở xóm này, nên Ta tránh đi.
A-nan bạch Phật: Thế Tôn! Há sợ Ðề-bà-đạt-đa sao?
Thế Tôn bảo: Ta chẳng sợ Ðề-bà-đạt-đa, nhưng kẻ ác này chẳng nên gặp gỡ.
A-nan thưa: Nhưng, bạch Thế Tôn! Có thể khiến cho Ðề-bà-đạt-đa này tới phương khác.
Bấy giờ Thế Tôn liền nói kệ này: Ta trọn không tâm này/ Khiến Ðề-bà ra đi/ Rồi sẽ tự tạo hạnh/ Và tự ở chỗ khác.
A-nan bạch Phật: Nhưng Ðề-bà-đạt-đa có lỗi với Thế Tôn.
Thế Tôn bảo: Người ngu hoặc chẳng nên gặp gỡ.
Bấy giờ Thế Tôn nhìn A-nan mà nói kệ: Chẳng nên thấy người ngu/ Chớ cùng ngu làm việc/ Cũng chớ nói năng cùng/ Nói những việc thị phi.
Khi ấy, A-nan lại dùng kệ đáp Thế Tôn: Người ngu làm gì được? Người ngu có lỗi gì? Ngay cho cùng nói chuyện/ Lại có những lỗi nào?
Thế Tôn lại dùng kệ đáp A-nan: Người ngu tự tạo hạnh/ Chỗ làm là phi pháp/ Chánh kiến trái luật thường/ Tà kiến ngày càng thêm.
Thế nên, A-nan, chớ cùng ác tri thức tùng sự. Vì cớ sao? Cùng ác tri thức tùng sự thì không tín, không giới, không văn, không trí. Cùng thiện tri thức tùng sự thì tăng thêm công đức, giới thành tựu đầy đủ. Như vậy, A-nan, hãy học điều này!
Bấy giờ A-nan nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.
(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm Địa chủ, 
VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.432)
Đúng là “tránh voi chả xấu mặt nào”! Với một người mà ta đã cảm nhận sâu sắc, đã nhiều lần trải nghiệm về họ là “không chơi được” thì tốt nhất là phải tránh xa. Ngay cả như Thế Tôn mà không muốn dây vào hạng ác tri thức như Ðề-bà-đạt-đa thì huống gì chúng ta. Không phải Thế Tôn bất lực trong việc này, nhưng có lẽ, đó là cách thức giáo hóa thực tiễn và sinh động nhất cho hậu thế chúng ta về cách thức ứng xử với thầy tà, bạn xấu.
Nhẫn nhịn một tí, tránh duyên một tí, và có thể chịu thua thiệt một tí nhưng chắc chắn ta sẽ bình an. Trong bối cảnh đời sống tu học vốn không ít uẩn khúc, thăng trầm thì đối đầu hay va chạm thêm chỉ là chuyện bất đắc dĩ. Nếu chúng ta tự thấy mình chưa đủ duyên giáo hóa người xấu thì hãy tránh duyên. Thị phi, phân bua, biện biệt đúng sai, luận tranh hơn thiệt… chỉ làm cho sự việc càng rối thêm, chướng ngại sự chuyên tâm thiền định.
Không những tránh mặt, Thế Tôn còn xác quyết là không thân cận, bất hợp tác với người ác tri thức. Dù cho họ có nhân danh là ai, giữ chức phận gì trong đạo hay ngoài đời, hứa hẹn giúp ta nhiều điều tốt lành… nhưng nếu thực sự biết họ là ác tri thức thì quyết không tùng sự, bất hợp tác. Vì sao? Vì kết quả cuối cùng của “liên minh” này có thể được nhiều điều (đối với thế gian) nhưng chắc chắn là trắng tay với đạo quả. Thế Tôn nói thẳng là về sự mất trắng này là “không tín, không giới, không văn, không trí”, điều này cũng đồng nghĩa với quả báo không lành nơi ác đạo, tam đồ.
Thế nên, người nào hay hội chúng nào mà thiếu kém phẩm chất thanh tịnh và hòa hợp của Tăng-già, không giúp cho chúng ta tiến bộ trên đường đạo thì phải tránh xa, mạnh dạn nói không hợp tác với họ. Ngược lại, chúng ta cần quyết tâm nương tựa lâu dài nơi các bậc thiện tri thức để tu học, nếu thực sự muốn “tăng thêm công đức, giới thành tựu đầy đủ”.
Quảng Tánh

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

Đánh thức lương tâm lịch sử

Đánh thức lương tâm lịch sử



Cuộc sống có quá khứ, có hiện tại và phải có tương lai. Chối bỏ quá khứ thì không ai dám và nếu có, chắc chắn phải bị hậu thế chê cười vì hiện tại cũng sẽ lùi về quá khứ. Đó là luật nhân quả, nếu đã gieo nhân không tránh khỏi hậu quả.

Tôi buồn muốn phát khùng vì nghe tin kỳ thi vừa qua chỉ duy nhất một em học sinh thi môn sử, còn hàng triệu con em lại quay lưng với môn này. Tại sao? Ai chịu trách nhiệm với hiện tượng đau lòng này?

Hôm qua, có một bài báo, tôi chỉ nghe chưa được đọc có người đề nghị đưa môn “Ngoại ngữ” vào chương trình giáo dục bắt buộc. Đúng thôi, vì với công nghệ thông tin hiện tại, với sự hoà nhập vào cộng đồng thế giới, không học ngoại ngữ thì biết mô tê gì trên thế giới để ứng xử cho phù hợp. Vậy bắt buộc lớp trẻ học ngoại ngữ, tôi đồng tình với người đề nghị, chúng tôi cho là hợp lý và do đó tôi liên tưởng đến tất cả các môn học của các em và cũng mong muốn vị này cũng đề nghị bắt buộc học môn Sử Địa. Môn nào bắt buộc, môn nào không bắt buộc, môn nào đặt nặng, môn nào xem nhẹ? Có người gần như ba phải “Môn nào cũng nặng cả vì biển học mênh mông, học để mở mang kiến thức thì tất cả các môn đều là cần cả”.

Trước đây, tôi đi học, theo sở thích, có sở trường, sở đoản để chọn ban A, B, C…. rồi có hệ số điểm để đánh giá. Bây giờ cũng vậy, nhưng với một hiểu biết nông cạn của một lão nông quê mùa như tôi, có con cháu đi học, đa số chúng xem thường môn Sử Địa, chúng lý luận rằng “môn này không thực dụng, không kiếm ra tiền gạo như các môn khác”. Tôi chỉ biết lắc đầu, giải thích thế nào cho chúng hiểu, xem nhẹ môn Sử thì làm sao biết sự hy sinh cao cả và chiến thắng oanh liệt của Tiền Nhân, làm sao ý thức được lòng tự hào Dân Tộc? Xem nhẹ môn Địa lý làm sao biết Giang Sơn tươi đẹp, làm sao thấy Đất Nước hùng vĩ cở nào, làm sao có tinh thần bảo vệ Quê Hương biển đảo? Học cho có, học lấy lệ, dạy cho xong giờ, hiểu hay không, ích lợi thế nào không quan tâm rồi cuối cấp thi hay không tuỳ ý. Điều này tôi có thảo luận với một Cán bộ cao cấp ở Đồng Nai, vị này cũng đồng ý như thế.

Ngay tại Thủ đô Hà Nội, mấy ngàn năm văn hiến, 36 Phố phường. Biểu tượng của miền Bắc là chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) bây giờ khép nép co mình sát một Viện Bảo tàng vĩ đại, Viện Bảo tàng không những cần thiết mà còn quá cần thiết, hết sức quan trọng, nhưng Hà Nội bây giờ gom cả Hà Tây thiệt không thiếu đất, không thiếu chỗ tôn nghiêm rộng rãi, sao lại phải chen lấn vào một biểu tượng thiêng liêng mấy ngàn năm như thế? Rồi quán xá, nhà hàng bao vây, chùa Một Cột lại hứng chịu cảnh ăn chơi bát nháo làm cảnh quang bị xâm hại trầm trọng. May còn chùa Linh Mụ, biểu tượng của miền Trung nằm biệt lập vươn cao trên một ngọn đồi nên chưa ai xâm hại được, phước duyên cho xứ Huế, cho miền Trung thân yêu của Đất Việt.

Nay nghe tin: Công viên Quách Thị Trang tại chợ Bến Thành cũng sắp bị “diệt”. Ôi! Sao mà phủ phàng đến thế? Một Công viên lịch sử, một nhân vật tiêu biểu cho tuổi trẻ anh hùng sắp cho về dĩ vãng. Đã đành rằng vì công ích và chỉnh trang Đô thị là cần nhưng xoá đi một di tích lịch sử hỏi có đáng không? Tại sao không tránh xa vài trăm mét hay chuyển ngôi tượng qua một địa điểm gần kề? Tượng Quách Thị Trang, một vì sao sáng, một tấm gương can đảm hiên ngang trước họng súng bạo tàn. Trang chỉ mới 16 tuổi có khác gì Võ Thị Sáu? Trang đã hy sinh, máu Trang đã đổ xuống đó, trước chợ Bến Thành, trước một đàn quỷ dữ, trước hàng trăm hàng ngàn con mắt tiếc thương kính phục của cả vạn đồng bào. Chợ Bến Thành biểu tượng của cả miền Nam. Trang đã gục ngã tại đó, máu Trang nhuộm đỏ cả chiếc áo trắng trinh nguyên. Một Nữ sinh oai dũng kiên cường không lùi bước trước một đoàn quỷ dữ, trước hàng trăm mũi súng chĩa thẳng vào Trang. Trang hiên ngang như một Nữ tướng trong tay chỉ một tấm biểu ngữ và với quyển vở học trò. Hình ảnh đó không đáng được duy trì hay sao, tấm gương đó không đáng được nêu cao hay sao? Vậy ai nở nhẫn tâm cho về quá khứ mờ nhạt, nghe đâu người ta định đem tượng của Trang vào Viện Bảo tàng. Đáng lẽ ra, gương hy hiến của Trang phải được nêu lên khắp toàn quốc, Thành phố nào cũng có con đường tên Trang, Trường học nào cũng có Tượng đài của Trang để làm gương cho tuổi trẻ. Đã không làm được như vậy, người ta cũng định chôn vùi Trang về quá khứ, gián tiếp phủ nhận xương máu của Trang, mãnh hình hài của Trang bằng xương bằng thịt đã trả về cho Tứ đại, chỉ còn một chút hình tướng nhỏ nhoi của Trang bằng vật liệu đất đá người ta cũng không muốn duy trì, phủ phàng quá phải không Trang? Cả một đất nước mênh mông, tượng Trang chỉ trong một công viên nhỏ hẹp cũng sẽ mất dấu. Trang ơi! “Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng, giữa khung trời mây trắng với trăng thanh, rồi một hôm có bao nhiêu đầu xanh, xiết tay nhau giục giã em lên đường…. hình hài mất nét tinh anh còn đây, giữa muôn tim Trang còn mãi không phai….” Bài hát làm nhói cả triệu con tim, bài hát bất diệt.

Ông anh tôi, Đoàn Đình Từ, mỗi lần cất lên bài hát, hai hàng nước mắt chảy dài lau không kịp, rồi cả anh em tôi nghẹn lời không hát thêm được nữa.

Thời đó, đã 51 năm qua, “Giữa muôn tim Trang còn mãi không phai”. Phai sao được những trang sử oai hùng của tuổi trẻ thời ấy. Khắp nơi trên toàn quốc, học sinh, sinh viên, thanh niên đồng loạt bãi khoá, đình công, bãi thị, noi gương Trang góp phần làm sập cả một chế độ độc tài không biết tôn trọng ý dân.

Tôi là nhân chứng cũng là nạn nhân như Trang, nhưng tôi chưa chết. Tôi hiểu tâm trạng của Trang, tôi nghiêng mình bái phục sự can đảm, hy sinh oanh liệt của Trang, còn người khác họ có đồng cảm như tôi và Trang đâu, trước mắt họ, tượng của một cô bé nhỏ nhoi, thơ ngây không đáng trân trọng, họ chỉ thấy nhà chọc trời là oai, tầng tàu ngầm là quý, họ không thấy được hàng triệu quả tim yêu thương rung động với dòng lịch sử oai hùng của cả một thế hệ, đó là quốc hồn, quốc tuý, nên họ dễ phủ nhận với quyền lực trong tay. Tôi viết mấy dòng này mà thương Trang, nhớ Trang, kính mến Trang, tôn vinh Trang như cô Giang cô Bắc, lòng tôi sẽ vô cùng xúc động đau khổ khi đi qua chợ Bến Thành mà không thấy tượng của Trang và chắc chắn sẽ có hàng triệu triệu người có tâm trạng như tôi nếu biết tôn vinh lịch sử.

Sơn Tăng quê mùa kém cõi này, thấy như thế, nghĩ như thế, và nói như thế với sự chân thành, chất trực, hy vọng tất cả chúng ta đánh thức “lương tri lịch sử” để biết duy trì và bảo vệ sự nghiệp của tiền nhân đã hy sinh quá nhiều xương máu. Không nên vì cái lợi trước mắt, nhất thời mà nở xâm hại các di tích lịch sử ấy, điển hình như ở Thành phố này, nơi Bồ tát Thích Quảng Đức tự thiêu, một tượng đài uy nghiêm trang trọng được hình thành thì hàng triệu cõi lòng hân hoan tán thán, nên chăng với Trang cũng làm như vâïy thì hạnh phúc biết bao! Tôi mong là như thế!

Phật Ân tự, Long Thành, Đồng Nai, Vu Lan 2558
Thích Minh Tâm

Ý Nghĩa Trai Đàn Chẩn Tế

 Ý Nghĩa Trai Đàn Chẩn Tế



Trong các lễ cúng thí Cô hồn, Trai đàn Chẩn tế được tổ chức quy mô nhất. Nó bao hàm cả hai khía cạnh văn chương và triết lý, gần như tất cả tinh hoa của tư tưởng và văn học Phật Giáo Đại thừa Mật Tông được gói trọn vào đây.

Về hình thức, trai đàn nầy dựa trên nền tảng của triết học Mật giáo. Tức bố trí theo một hình thức đơn giản của mạn đà la (mandala)...

Đó là một vòng tròn, được tượng trưng như một đóa hoa sen nở trọn, và vòng tròn nầy là căn bản vũ trụ luận của Mật Giáo. Thông thường có hai bộ mạn đà la. Kim Cang giới mạn đà la (Vajradhàtu-mandala) biểu tượng cho trí huệ sở chúng của Phật. Thai tạng giới mạn đà la (garbhadhàtu-mandala) biểu tượng cho phương tiện độ sanh của Ngài. Mỗi mạn đà la đều dựa trên một số chủ điểm tư tưởng của Phật giáo Đại thừa. Chủ điểm đáng ghi nhớ nhất, đại lược như sau:

Trước hết, chúng ta nên biết rằng theo quan điểm truyền thống Phật giáo, vũ trụ gồm hai thành phần. Một đằng là nhân cách, tức lấy con người hay các loài hữu tình làm bản vị, mà trên hết, lấy nhân cách của Phật làm biểu hiệu cho bản thể tuyệt đối. Đằng khác nữa, là thế giới của nhân cách, là những pháp sở chứng và thọ dụng bất khả tư nghị của Phật. Nhân cách có năm yếu tố, gọi là năm uẩn: sắc, thọ tưởng, hành, thức. Chúng tập họp lại thành một bản ngã giả tưởng nên được gọi là uẩn. Thế giới của nhân cách được cấu tạo bởi bảy yếu tố, gọi là thất đại: địa, thủy, hỏa, phong, kiến, thức và không.

Trên cơ sở giáo nghĩa nầy, trước hết mạn đà la của Kim cang giới được thiết lập để biểu hiện trí huệ sở chứng của Phật. Kim cang là loại chất rắn không bị bất cứ gì hủy hoại được. Do đó kim cang được vận dụng như một khái niệm cụ thể hóa yếu tính tồn tại của Phật thân, gọi là kim cang bất hoại thân (vajrasauhatanakàya). Thân ấy, cũng như thân của tất cả mọi loài chúng sinh, đều do năm uẩn và năm đại cấu thành. Nhưng tồn tại của Phật thân không khác biệt với hoạt dụng của Phật trí. Do đó, năm đại tương ứng với năm trí. Và nhân cách của Phật, như là chỉnh thể thống nhất của tồn tại và nhận thức, được biểu hiện thành năm đức Như Lai tương ứng, tức Ngũ Trí Như Lai, hay năm vị Thiền Phật (sẽ nói rõ ở phần Ngũ Phương Phật). Sau đây sẽ mô tả sơ lược một trai đàn chẩn tế từ trong ra ngoài:


NỘI ĐÀN:

Bàn Phật: Tại chùa có Chánh điện, tại tư gia có Bàn thờ Phật là nơi Tham Lễ Giác Hoàng
Bàn kinh: Nơi để nghi thức, chuông mõ, pháp khí.

NGOẠI ĐÀN:

Màn Sư tử tòa: Sư tử tòa là chỗ ngồi của Phật. Phật là bậc oai đức hơn tất cả chúng sanh. Cũng như sư tử dõng mãnh hơn tất cả các thú. Chớ chẳng phải Phật ngồi trên mình con sư tử. Cho nên dù Phật ngồi bất cứ đâu, dù trên ghế, hòn đá, gốc cây hay mặt đất. . . thì những chỗ đó đều gọi là Sư Tử Tòa. Vậy bức màn Sư Tử Tòa là bức màn có hình con sư tử được vẽ rất oai nghiêm, dõng mãnh treo sau lưng vị Gia Trì Sư, tượng trưng chỗ ngồi của Phật.

Bảo Tọa: chỗ ngồi của Gia Trì Sư, khi ngồi vào đây là đại diện chư Phật vì chúng sanh, đặc biệt là cô hồn mà tuyên dương Chánh pháp. Theo khoa nghi, trước khi vị chủ sám vào chỗ ngồi phải cung hành một nghi thức mật pháp rất trang nghiêm. Sau khi cung thỉnh Ngũ Phương Phật xong, vị chủ sám đến đứng trước bàn Giác Hoa. Vị tả kim đài 1 đứng ở vị trí ở bàn kim đài, hai tay nâng thủ lư cung thỉnh Vị Gia Trì Sư đăng bảo tọa để thuyết giới cho cô hồn. Sau khi vị Gia Trì Sư đáp lại và xin chư Phật cho phép đăng bảo tọa. Vị tả kim đài 1 ra lệnh cử chuông trống bát nhã bằng động tác vỗ vũ xích, chuông trống bát nhã cử hành, Vị Gia Trì Sư quay về trái đi lên bảo tòa. Kinh sư vào vị trí bàn kim đài.

Màn song khai: Trước bảo toạ là bức màn phân làm đôi, được đóng lại hoặc mở ra tùy theo lúc qui định trong khoa nghi.

Bàn kim đài: Kinh sư ngồi hai bên tả hữu mỗi bên ba hay bốn vị. Thứ tự tính từ trong ra ngoài. Có một vài sự đổi thay nhỏ tùy vùng xử dụng tang và mõ. Huế, kinh sư ngồi ghế để đầu trần. Bình Định, kinh sư ngồi xuống chiếu, đầu đội tỳ lư, sử dụng 2 đẩu (giống cái tang nhưng không có cán) và mõ. Miền nam, kinh sư ngồi ghế đầu trần, xử dụng 2 đẩu và mõ.

Bàn Giác Hoa: Giác hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, một đức Phật ở cõi Ta bà, hồi đời quá khứ cách nay không biết bao nhiêu kiếp. Ngài có tuổi thọ bốn trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp. Về đời tượng pháp của đức Phật ấy có một cô gái Bà la môn, nhơn mẹ vừa khuất, đến chiêm lễ tượng Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương tại chùa cầu cho biết hồn mẹ ở chốn nào, ngài liền khiến thần thức của cô gái ấy đến cõi địa ngục. Nơi đây quỷ vương cho biết nhờ phước đức cúng Phật và bố thí của thánh nữ, hồn bà được thoát cảnh điạ ngục mà lên cảnh tiên. Cô gái ấy tức là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát.

Các án Ngũ phương Phật: Ngũ phương Phật là một hệ thống phối trí chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ pháp hết sức thâm diệu của Phật giáo Mật Tông, Ngũ phương Phật là sự phối hợp giữa Ngũ phương, Ngũ Trí, Ngũ Phật, Ngũ Bộ và Ngũ Hành trong Thai Tạng Mạn đà la và Kim Cang Giới Mạn đà la. Theo sự truyền thừa của Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay trong Trung Khoa Du Già Tập Yếu khắc bản năm Mậu Tý triều Vua Đồng Khánh và bài viết “LỄ THÁNG BẢY cho những oan hồn phiêu bạt” của Thầy Tuệ Sĩ, đàn tràng Chẩn tế tại Việt Nam được cung trần theo Kim Cang Giới Mạn Đà La. Chúng tôi xin trình bày khái quát như sau:

Kim cang giới mạn đà la là thuyết minh hoạt dụng của trí huệ sai biệt trong lý tính không sai biệt, do đó Ngũ trí Như lai là trọng tâm của mạn đà la nầy. Hình dạng cơ bản là một hình tròn, gọi là nguyệt luân (candramandala). Bên trong hình tròn nầy thiết lập các biểu tượng của năm vị Như Lai.

Án Trung ương: Chính giữa là vị trí Đức Phật Tỳ Lô Giá Na tức Đại Nhật Như Lai (Mahà Vairocana – Tathàgata) hiển thân sắc màu vàng, đối diện với bàn Giác Hoa. Đó là Pháp thân Phật (Dharmakàya Buddha), như mặt trời bủa rộng ánh sáng bình đẳng và bao dung cùng khắp vũ trụ. Trong năm đại, Ngài biểu tượng cho không đại (àkàzadhàtu), và bản chất của hư không là bao dung. Trong năm uẩn, Ngài là biểu tượng của thức uẩn. Trong năm loại trí, Ngài biểu tượng cho Pháp giới thể tánh trí.

Bốn phương chung quanh Ngài Đại Nhật Như Lai là vị trí của bốn đức Như Lai, theo thứ tự từ Đông qua Nam cho đến Bắc mà quý vị trong khoa Chẩn Tế thường nói cho dễ nhớ: Tả Đông, Nam. Hữu Tây; Bắc (từ trong đi ra) theo chiều kim đồng hồ, tức bên tay trái là phương Đông và Nam, bên tay phải là phương Tây và Bắc như sau:

Án Phương Đông: A Súc Phật (Akwobhya) hay Bất Động Như Lai, hiển sắc thân màu xanh, trở mặt vào án Trung ương với các biểu tượng: Phong đại (vàyu-dhàtu), nhờ đó mà vũ trụ có vận động; hành uẩn động cơ tạo tác của các loại hữu tình; Đại viên cảnh trí, như tấm gương tròn bao la và ngời sáng phản chiếu mọi hiện tượng sinh thành và hủy diệt của thế giới.

Án Phương Nam: Bảo Sanh Phật (Ratnasambhava), hiển sắc màu đỏ, trở mặt vào Trung ương) với các biểu tượng: Hỏa đại (tejo-dhàtu), khả năng làm chín muồi để đưa đến chỗ thành tựu các vận động của chúng sanh và thế giới; tưởng uẩn, khả năng truy ức quá khứ và ước vọng tương lai để thúc đẩy sự tiến hành sinh hóa; Bình đẳng tánh trí, khả năng quan sát bình đẳng các pháp không bị ràng buộc ngã và pháp.

Án PhươngTây: A Di Đà Phật (Amitabhà), hiển sắc màu trắng, trở mặt vào Trung ương), biểu tượng Thủy đại, khả năng kết hợp các pháp để tác thành duyên sinh hay duyên khởi; thọ uẩn, khả năng hưởng thụ thành quả của các vận động; Diệu quan sát trí, nhìn thấy rõ chân tướng của vạn hữu, của tác dụng sinh khởi, tồn tại và hủy diệt.

Án Phương Bắc: Bất Không Thành Tựu Phật (Amoghasiddhi), hiển sắc màu đen, trở mặt vào Trung ương, biểu tượng Địa đại, khả năng duy trì sự tồn tại của vũ trụ; sắc uẩn, tác thành thế giới hữu tình; Thành sở tác trí, thể hiện các phương tiện giáo hóa chúng sanh.

Phía sau Ngũ phương Phật là:
Bàn Địa Tạng (đồng hướng với Trung ương)
Bàn hợp thực (thấp, để đồ cúng Cô hồn)
Bàn Tiêu Diện (cao hơn bàn Địa Tạng )
Nguyên Hòa

Khi tổng thống Obama cung rước ảnh Phật vào Nhà Trắng

Khi tổng thống Obama cung rước ảnh Phật vào Nhà Trắng

(PGVN) Trước các đồng sự của mình tại tòa Bạch ốc, Tổng thống Barack Obama bất ngờ mang tấm bích chương. Ông trịnh trọng bước ra trong im lặng và sau đó, Ông nở nụ cười thật tươi, những bàn tay của các nhân viên vỗ đều. Một sử chỉ thật đẹp, một nhân cách “thuyết pháp vô ngôn” của vị Tổng thống nước Mỹ.

Một vị thiền sư nhà Phật nói “this is it”, tại chỗ đứng của mình, ông đã không còn nói gì! Có lẽ câu chuyên này đã lan truyền đi rất nhanh và tất cả mọi người sau đó, chính họ đã cảm nhận ra một con đường có thể mở lối, khai thông cho họ, những khi không còn cách nào khác, để xử lý những tình huống mạo hiểm, không an toàn cho chính họ và cho những vấn nạn chiến tranh.

Họ đã đem hình ảnh của đức Phật, như muốn soi lại chính mình, có thật trong số chúng ta đã “yêu hòa bình” rồi không? Và khi chúng ta làm những quyết định đó sẽ gây tổn hại, thương vong đến cho đồng loại ở hiện tại, tương lai.


Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta có thể mở mắt nhìn nhân loại trong thái độ từ bi và vô ngã của đạo Phật. Những lúc như vậy, Barack Obama thường tìm đến cõi tâm linh để thực tập thiền tọa (hít thở). Ông nói: “vào những lúc như thế tôi cần đức Phật nói thay tôi”. Vì chính Ngài mới có trách nhiệm với chúng sinh hơn là tôi. Tôi không thể lấy một “bản ngã” của mình để thay thế, sắp đặt lên trên tất cả.

Công án thiền “This is it” đã làm tôi thay đổi mọi phương diện, quyết định. Tôi đã tìm ra nguyên nhân, hậu quả cho một “cái ta” vượt ra ngoài giới hạn cho phép.

Đôi khi Ông tự hỏi “Làm chính cho tôi hay cho các đồng sự”. Nếu mình làm bằng cái tâm để phục vụ cho đất nước, cho sự an ninh của các đồng minh thì điều đó hoàn toàn là cách mà ông lựa chọn để đi tới hành động, còn nếu làm với tư cánh đơn lẻ, độc đoán và trong sự thù hận, mù quáng thì ông càng buông bỏ những tư kiến của mình, của nó, của chính nó “This is it” vào một thời điểm thích hợp khác.

Tôn tượng đức Phật lần đầu tiên chiêm bái ngay trong Nhà Trắng (White House), được cộng đồng thế giới, các nhà hòa bình nói là hết sức có giá trị đối với một xã hội vật chất, tranh chấp, bất an. Ông đã từng nói “Tôi đã chiêm nghiệm rất nhiều về những điều mà một con người có thật trong lịch sử, giống như Gotama đã từng đi đến giai đoạn chỉ thực hành, mà chính Buddha đã từng tuyên bố sau bốn mươi chín năm thuyết pháp và hành đạo ta chưa từng nói lời nào”. Có lẽ, chúng ta cũng vậy, có những phiên họp, cuộc bỏ phiếu hay ra những quyết định, trong những lần ấy, tất cả chúng ta có thể ngồi yên để nhìn một đấng giác ngộ, nghĩ về một gương sáng nào đó trên thế giới.

Với tôi, ngay bên trong ngôi nhà này, với những con người đại diện cho năm mươi mấy Tiểu bang có thể dành ra những giây phút bình yên nhất cho một ngày để cầu nguyện và soi sáng lại chính mình ‘This is it’. Chỉ cần chúng ta chiêm ngưỡng hình bóng đức Phật trong ngày hôm nay thôi là đủ để tâm ta sáng suốt, việc ta nhẹ nhàng, mọi người được sống trong sự tin cậy và yêu quý. Đó chính là Ngài đang thuyết một bài pháp về lòng từ bi, bất bạo động thiết thực.

Vào một ngày, không có tôi không còn trong White House, tôi không thể hiện diện trong căn phòng Bầu dục này nữa thì đức Phật là con người có thể tồn tại theo thời gian, Ngài sẽ là hình ảnh sống ngay thẳng, minh bạch, không phân biệt cho chúng ta.

Thích Pháp Bảo

GIỚI ĐÀN THIỆN HOA I TRUYỀN TRAO BỒ TÁT GIỚI VÀ THẬP THIỆN GIỚI. (Do BHD/GĐPTVN TRÊN THẾ GIỚI kiến đàn)

PHÁP HỘI THÙ ÂN
GIỚI ĐÀN THIỆN HOA I TRUYỀN TRAO BỒ TÁT GIỚI VÀ THẬP THIỆN GIỚI.
(Do BHD/GĐPTVN TRÊN THẾ GIỚI kiến đàn)



ĐÀN ĐẦU HÒA THƯỢNG : HÒA THƯỢNG thượng ĐỨC hạ CHƠN.
ĐỆ NHẤT YẾT MA A XÀ LÊ : HÒA THƯỢNG thượng MINH hạ CHIẾU
ĐỆ NHỊ GIÁO THỌ A XÀ LÊ : HÒA THƯỢNG thượng TUỆ hạ SĨ


HÀNG TÔN CHỨNG:

HÒA THƯỢNG thượng PHƯƠC hạ TRÍ
HÒA THƯỢNG thượng LƯU hạ THANH.
HÒA THƯỢNG thượng THANH hạ HUYỀN.
HÒA THƯỢNG thượng CHƠN hạ TRÍ.
HÒA THƯỢNG thượng THÁI hạ HÒA.
HÒA THƯỢNG thượng THIỆN hạ DƯƠNG
THƯỢNG TỌA thượng HẢI hạ TẠNG

KHAI ĐẠO GIỚI TỬ:

Khai đạo giới tử Bồ Tát tại gia: HÒA THƯỢNG thượng THÁI hạ HÒA.
Khai đạo Thập Thiện Giới Thượng Tọa thượng NGUYÊN hạ HIỀN

DẪN THỈNH:

Thượng Tọa thượng CHƠN hạ THỨC
Thượng Tọa thượng NHUẬN hạ CHÂU

Với sự kiến lập Giới Đàn trang nghiêm thanh tịnh như vậy 32 tỉnh thành đăng ký thọ :

THẬP THIỆN GIỚI : 512 GIỚI TỬ.
BỒ TÁT GIỚI TẠI GIA : 237 GIỚI TỬ
TỔNG CỘNG : 749 GIỚI TỬ.

27 Phái đoàn cấp Tỉnh Thị về Hộ Giới Hộ Đàn gần 500 thành viên.

Lam viên về dự đàn kỳ siêu Giải Oan bạt độ và dự lễ hiệp kỵ xong là về có gần 500 thành viên.Đây là một pháp hội quy tụ nhiều Lam Viên với nguyện lực cầu cho ÂM SIÊU giải Nội kết để QUỐC THÁI DÂN AN THẾ GIỚI HÒA BÌNH CHÚNG SANH AN LẠC.

Qua Pháp Hội Thù Ân tổ chức GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI đã phát đi một thông điệp “ TẤT CẢ MỌI SỰ VÂN TẬP ĐÔNG ĐẢO CỦA TỔ CHỨC NẦY CHỈ CÓ MỘT MỤC ĐÍCH DUY NHẤT LÀ THĂNG TIẾN PHẨM HẠNH ĐẠO ĐỨC NHÂN CÁCH CÁ NHÂN TẠO MỘT NĂNG LỰC LỚN CẢI THIỆN HOÀN CẢNH MÔI TRƯỜNG ĐỂ CUỘC SỐNG NGÀY MỘT TỐT ĐẸP HƠN”.Tuyệt đối không gây ảnh hưởng xấu đến quần chúng và xã hội.Tại sao vậy ? Vì Lam Viên luôn tin nhân quả với tiêu chí PHỤNG SỰ CHÚNG SANH LÀ CÚNG DƯỜNG CHƯ PHẬT vậy./.

(THỊ NGUYÊN)

Lễ Hiệp Kỵ truyền thống GĐPT tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

 Lễ Hiệp Kỵ truyền thống GĐPT tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Vào lúc 8g00 ngày 23.7.ÂL Giáp Ngọ (18.8.2014), Lễ Hiệp Kỵ truyền thống của GĐPT Bà Rịa Vũng Tàu đã được tổ chức long trọng tại chùa Lạc Bang, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu - Việt Nam.
Chứng minh buổi lễ là Chư Tôn Hòa Thượng Thích Minh Bảo - Trưởng Ban Cố Vấn Giáo Hạnh.GĐPT tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Hòa Thượng Thích Trừng Diệu và Hòa Thượng Thích Tịnh Hải là những  - Ân Sư GĐPT  Bà Rịa Vũng Tàu, cùng sự hiện diện của Chư Tôn Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng, Ni Cố Vấn Giáo Hạnh, Chư Tôn Đức Tăng Ni xuất thân từ GĐPT, Chư Tôn Đức Ân Sư, Trụ Trì các chùa chiền, tự viện  trong tỉnh có GĐPT sinh hoạt.
Phái đoàn đại diện Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPT.VN gồm có Huynh Trưởng Thị Nguyên Nguyễn Đình Khôi - Tổng Thư Ký và Huynh Trưởng Diệu Quang Cao Thị Liên Minh - Ủy Viên Oanh Vũ Nữ.
Quan khách tham dự có đại diện các Ban Hướng Dẫn bạn: Đồng Nai, Biên Hòa, Gia Đnh, Quảng Đức Sài Gòn; quý đạo hữu Ban Bảo Trợ GĐPT Bà Rịa Vũng Tàu; quý đạo hữu Ban Hộ Tự, Ban Bảo Trợ các đơn vị GĐPT trực thuộc; quý vị thân nhân Hương Linh; quý đạo hữu ân nhân Mạnh Thường Quân; anh chị Cựu Huynh Trưởng, Cựu Đoàn Sinh.
Toàn thể thành viên Ban Hướng Dẫn, các Ban Đại Diện tại các huyện/thị; đại diện Ban Huynh Trưởng 30 đơn vị GĐPT trong tỉnh đã có mặt tổ chức và tham dự Hiệp Kỵ.
Lễ Hiệp Kỵ diễn ra trong không khí trang nghiêm, thanh tịnh với hơn 400 người tham dự và đã kết thúc viên thành hồi 11g30' cùng ngày.

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

Thi ĐH 2015: Thêm 1 phương án mới nữa

Thi ĐH 2015: Thêm 1 phương án mới nữa

Chủ nhật, 10:00 | 03/08/2014
( Học đường ) - Theo cách thay đổi như trên học sinh sẽ có nhiều hơn các phương án tự chọn mà không làm cho kỳ thi trở nên nặng nề hơn.Tôi nghĩ rằng với cách cải tiến nhỏ này, rất nhiều học sinh sẽ đăng ký thi nhiều hơn 2 môn Tự chọn, thậm chí sẽ có rất nhiều em đăng ký thi cả 6 môn, đó là điều tốt đối với phong trào học đều các môn của học sinh. Mặt khác với sự mở rộng này, các trường ĐH sẽ có nhiều phương án để tuyển sinh hơn dựa trên kết quả thi này.

thi dh 2015 them 1 phuong an moi nua
Phân tích 3 phương án thi Quốc gia 2015
Theo tôi, trong 3 phương án (PA) kỳ thi Quốc gia 2015, PA 1 gần giống kỳ thi TN THPT năm nay, như vậy dễ được xã hội chấp nhận hơn. Hai PA còn lại có vẻ ưu việt hơn nhưng chưa thể áp dụng ngay vì còn quá mới, các PA này nếu áp dụng ngay sẽ gây sốc cho xã hội. Do vậy tạm thời vẫn phải dùng PA1.
Các PA2 và 3 của kỳ thi Quốc gia 2015 sẽ cần có lộ trình.
Kỳ thi Quốc gia 2015 nên tổ chức theo phương án nào?

Kỳ thi Quốc gia 2015 nên tổ chức theo phương án nào?

Một số chuyên gia phát biểu nếu thi theo PA1, HS sẽ học lệch và không thể có phương án tuyển sinh đại học từ kết quả của PA1 này. Thậm chí có 1 chuyên gia còn đề nghị tăng số môn thi lên 6 (chọn 6/8) cốt để đại học dễ tuyển hơn. Các ý kiến này đều có lý đúng nhưng vấn đề là không thể làm cho kỳ thi này trở nên nặng nề đối với học sinh. Do vậy PA1 cần được cải tiến.
Một số bạn cũng lên tiếng là chưa thể đưa ngay môn Ngoại ngữ thành môn bắt buộc vào PA1 vì hiện tại tình trạng học và dạy môn này tại rất nhiều địa phương còn rất kém hiệu quả. Do vậy nên đưa môn tiếng Anh thành môn tự chọn. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có lộ trình để đưa môn Ngoại ngữ vào bắt buộc sau 8-10 năm nữa.

Về ý kiến sợ học sinh học lệch tôi có suy nghĩ sau: vấn đề này không thể giải quyết trọn vẹn trong điều kiện của Việt Nam. Việc đưa môn Toán + Ngữ văn thành môn bắt buộc đã là một tiến bộ lớn. Việc cho học sinh lựa chọn các môn cũng là một hướng mở để khuyến khích các em học đều các môn. Kết hợp với yêu cầu tuyển sinh đại học đa dạng khác nhau nên mở rộng các môn tự chọn để các em có thể thi nhiều môn hơn để lấy kết quả tốt hơn cho tốt nghiệp và tuyển sinh đại học.
Đề xuất phương án thứ 4 kỳ thi Quốc gia 2015
Từ các suy nghĩ trên, phương án đề xuất và góp ý của tôi là: 
- Học sinh thi bắt buộc 2 môn: Toán, Ngữ văn.
- Các môn tự chọn là: Ngoại ngữ, Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa.
- Mỗi HS bắt buộc phải chọn tối thiểu là 2 môn và tối đa là cả 6 môn Tự chọn này. 
- Điểm tốt nghiệp phổ thông được tính là điểm Toán + Ngữ văn + điểm của 2 môn Tự chọn cao nhất trong các môn đã thi.
- Điểm Toán + Văn + tất cả các môn Tự chọn được dùng để đăng ký và tuyển sinh vào đại học.

Theo cách thay đổi như trên học sinh sẽ có nhiều hơn các phương án tự chọn mà không làm cho kỳ thi trở nên nặng nề hơn.Tôi nghĩ rằng với cách cải tiến nhỏ này, rất nhiều học sinh sẽ đăng ký thi nhiều hơn 2 môn Tự chọn, thậm chí sẽ có rất nhiều em đăng ký thi cả 6 môn, đó là điều tốt đối với phong trào học đều các môn của học sinh. Mặt khác với sự mở rộng này, các trường ĐH sẽ có nhiều phương án để tuyển sinh hơn dựa trên kết quả thi này.
Bùi Việt Hà
(Nguyên Giảng viên HVKTQS, giám đốc Cty Schoolnet, tác giả SGK Tin học)