Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Ho Xuan Huong - ve

Ba Huyen Thanh Quan - ve

Qua deo Ngang thoi nay



THU TỨ

Bà Huyện Thanh Quan


Thăng Long thành hoài cổ
Qua đèo Ngang
Chùa Trấn Bắc
Chiều hôm nhớ nhà







Thế kỷ 18, nước Việt Nam sinh mấy nữ sĩ xuất sắc. Ðầu thế kỷ có Ðoàn Thị Ðiểm, về cuối thế kỷ có Bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương. Mỗi người văn hay mỗi vẻ.

Thi phẩm để lại thực chắn chắn là của Bà Huyện Thanh Quan chỉ có bốn bài.(1) Tuy ít, những bài thơ cổ điển ấy vẫn vẽ ra được một phong cách văn chương riêng biệt. Về nội dung, người đọc gặp cả tình chung lẫn tình riêng, tình nào cũng thấm thía mà kín đáo.

Thế kỷ 21, thử nhìn kỹ lại mấy vần xưa...

Thăng Long thành hoài cổ

Việt hóa là làm cho mang phong cách Việt.

Việt hóa từ nước ngoài là dùng nó trong câu tiếng Việt thế nào đó cho nó không bị nổi bật, chói chang. Việt hóa thành công thì từ Việt hóa sẽ hòa hợp với từ Việt gốc khiến câu chẳng những không trở nên lủng củng mà lại bỗng có sắc màu phong phú hơn...

Bà Huyện Thanh Quan là một trong số những nhà thơ đầu tiên đã Việt hóa thành công một số từ Tàu.

Trong Thăng Long Thành Hoài Cổ, những “thu thảo”, “tịch dương”, “tuế nguyệt”, “tang thương” v.v. chan hòa, quyện nhuyễn với những “lối xưa”, “nền cũ”, “đá trơ gan”, “nước cau mặt”...

Nhờ đứng trong câu tiếng Việt, những từ Tàu ấy bỗng có dáng dấp vừa cổ kính vừa nhẹ nhàng vốn có lẽ không có khi đứng trong câu tiếng Tàu.

Rồi chính cái phong cách Việt mới có của chúng lại làm cho câu thơ tiếng Việt bỗng thêm trang nhã!

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.(2)


Qua đèo Ngang

Bài thơ này về chữ dùng gần như thuần Việt.

Bà Huyện có lúc nôm na kém gì “Bà Chúa” đâu!(3)

Nhưng cùng qua đèo, Bà Chúa như thường lệ trông kia thấy nọ rồi thơ khúc khích, bỡn cợt (4); trong khi Bà Huyện, cũng như thường lệ, thơ rất nghiêm trang.

Ðèo Ngang sau khi thơ Thanh Quan ra đời đã biết bao nhiêu gót chân thi nhân qua lại, có cả thi hào, thế mà không có bài thơ vịnh thứ hai. Không khỏi nhớ đến chuyện Lý Bạch bước lên lầu Hoàng Hạc đã cầm bút lên nhưng thấy thơ Thôi Hiệu bèn vứt bút...

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen lá đá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.(5)
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.


Chùa Trấn Bắc

Trấn Bắc là tên do vua Thiệu Trị đặt lại năm 1842 nhân dịp ra Bắc đến thăm chùa Trấn Quốc.

Khi mang tên mới, nơi đó là chùa, chứ không phải là hành cung. Có là hành cung chăng, chỉ trong thời vua Lê chúa Trịnh.

Bà Huyện Thanh Quan nổi tiếng hoài Lê. Nên “người qua đó” trông cảnh rồi chỉ miên man về “hương ngự” với “áo chầu”, rồi chỉ “chạnh niềm đau” về vàng son quá khứ...

Mắt trông chùa mà lòng chỉ thấy hành cung, bởi thế mà “Trấn Bắc hành cung”?

Bất kể có chia xẻ tâm trạng của tác giả hay không, tưởng mọi người đọc thơ đều có thể thưởng thức nghệ thuật thơ, có thể trầm trồ những câu thơ “trau chuốt đến tự nhiên” của một bậc nữ lưu tài tình!

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu,
Khiến người qua đó chạnh niềm đau.
Mấy giò sen rớt hơi hương ngự,
Năm thức mây phong nếp áo chầu.
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn,
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu!


Chiều hôm nhớ nhà

Bài thơ này chứa thuần túy tình riêng.

Thơ tiếng Việt nhưng tuân theo đủ mọi ràng buộc của luật Đường, nhưng vẫn cứ diễn được tứ thành lời tự nhiên đẹp đẽ!

Cả bốn bài thơ nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan đều thế.

Chẳng những hay, cả bốn lại còn toát ra được một phong cách độc đáo, không thể nhầm với sáng tác của bất cứ ai.

Dùng luật thơ của người ta mà làm thơ tiếng nước mình thành công đến thế thì tức là đã “hóa” luật người thành luật mình rồi chứ còn gì nữa!

Cùng với vài “tiên phong” khác, thông qua năng khiếu vận dụng tiếng Việt cách tài hoa, Bà Huyện Thanh Quan chẳng những đã Việt hóa thành công một số từ Tàu, mà còn Việt hóa thành công cả một thể thơ Tàu!

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Ðài người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.(6)













_______________
(1) Bài Cảnh Thu nhiều người cho là của Hồ Xuân Hương. Chiều Hôm Nhớ Nhà (hay Cảnh Chiều Hôm) còn một bài nữa:
Vàng tỏa non tây bóng ác tà
Đầm đầm ngọn cỏ tuyết phun hoa
Ngàn mai lác đác chim về tổ
Dậm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà
Còi mục gác trăng miền khoáng dã
Chài ngư tung gió bãi bình sa
Lòng quê một bước dường ngao ngán
Mấy kẻ chung tình có thấu là..?
Vì hai bài CHNN trùng tứ mà lời cũng tương tự, nên chúng tôi chỉ chọn một.
(2) Hí trường: nơi diễn kịch. Mấy tinh sương: mấy năm. Tịch dương: mặt trời lúc gần lặn.
(3) Hồ Xuân Hương hay được gọi là bà chúa thơ nôm.
(4) Xem bài Đèo Ba Dội.
(5) Câu bốn có bản chép là: “Lác đác bên sông rợ mấy nhà”.
(6) Ốc: tù và làm bằng vỏ ốc lớn. Viễn phố: bến xa. Cô thôn: xóm vắng. Ngàn mai: rừng mai. Dặm liễu: dặm đường có trồng liễu, ý nói đường xa. Kẻ chốn Chương Ðài: người vợ đang ở nhà. Lữ thứ: nhà trọ; người lữ thứ: người đang ở xa quê. Hàn ôn: lạnh ấm; nỗi hàn ôn: chuyện tâm tình.
 
Một Số Điều Cần Biết Về Thơ Đường Luật

(Bài viết được sưu tầm và hiệu chỉnh, nếu có gì sơ sót, mong các bạn châm chước, hoặc có bổ sung gì; thì xin vào mục Góp Ý - Thắc Mắc).

Để tạo điều kiện thuận tiện cho các thành viên của diễn đàn muốn tìm hiểu thêm về thơ Đường Luật, xin post vào đây những học hỏi, sưu tầm được. Nếu trong việc ghi chép lại có gì sơ sót, nhầm lẫn thì xin các bạn đóng góp cho. Xin cảm ơn.


****


BẢNG CHÍNH LUẬT CÁC THỂ THƠ ĐƯỜNG



1- Bảng Luật Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, luật Trắc Vần Bằng:

T - T - B - B - T - T - B (vần)
B - B - T - T - T - B - B (vần)
B - B - T - T - B - B - T
T - T - B - B - T - T - B (vần)



2- Bảng Luật Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, luật Trắc Vần Trắc:

T - T - B - B - B - T - T
B - B - T - T - T - B - B (vần)
B - B - T - T - B - B - T
T - T - B - B - T - T - B (vần)



3- Bảng Luật Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, luật Bằng Vần Bằng: 
B - B - T - T - T - B - B (vần)
T - T - B - B - T - T - B (vần)
T - T- B - B - B - T - T
B - B - T - T - T - B - B (vần)



4- Bảng luật thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật luật Bằng vần Trắc: 

B - B - T - T - B - B - T
T - T - B - B - T - T - B (vần)
T - T - B - B - B - T - T
B - B - T - T - T - B - B (vần)



5- Bảng luật thơ Thất ngôn Bát cú Đường Luật, luật Bằng vần Bằng:
B - B - T - T - T - B - B (vần)
T - T - B - B - T - T - B (vần)
T - T - B - B - B - T - T (đối câu 4)
B - B - T - T - T - B - B (đối câu 3) (vần)
B - B - T - T - B - B - T (đối câu 6)
T - T - B - B - T - T- B (đối câu 5) (vần)
T - T - B - B - B - T - T
B - B - T - T - T - B - B (vần)



6- Bảng luật thơ Thất ngôn Bát cú Đường Luật, luật Trắc, vần Bằng:

T - T - B - B - T - T - B (vần)
B - B - T - T - T - B - B (vần)
B - B - T - T - B - B – T (đối câu 4)
T - T - B - B - T - T - B (đối câu 3) (vần)
T - T - B - B - B - T - T (đối câu 6)
B - B - T - T - T - B – B (đối câu 5) (vần)
B - B - T - T- B - B - T
T - T - B - B - T - T- B (vần)



7– Ngoài ra còn có thể thơ Ngũ Ngôn Bát Cú và Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt mà chúng ta ít gặp được lấy từ bản chính luật thể Thất Ngôn bỏ đi 2 từ đầu tiên mà thành.

Ví dụ:

Bảng Luật Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật luật Trắc Vần Bằng:

T - T - B - B - T - T - B (vần)
B - B - T - T - T - B - B (vần)
B - B - T - T - B - B - T
T - T - B - B - T - T - B (vần)

Sau khi bỏ hai từ đầu, sẽ được chuyển thành:

Bảng Luật Thơ Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật luật Bằng Vần Bằng:

B - B - T - T - B (vần)
T - T - T - B - B (vần)
T - T - B - B - T
B - B - T - T - B (vần)

Và các bảng khác cũng lượt bỏ tương tự.

8– Theo sự phát triển, thơ Đường Luật về sau được sử dụng rộng rãi hơn ở dạng Biến Thể, đơn giản hơn một chút về luật B – T, người ta thường gọi: “Nhất, Tam, Ngũ bất luận; Nhị, Tứ, Lục phân minh”.

Tức chỉ chú trọng luật B – T ở từ thứ 2, 4, 6 và 7, xin tham khảo ở phần đã có.

Nhờ vào sự phát triển đó, các thể thơ Đường Luật được đa dạng hơn mà nếu dùng bản Chính Luật thì không thể có được. Ví như các thể: Thủ Nhất Thanh, Thuận – Nghịch Độc…

_____________________________

"Thăng Long thành hoài cổ" - bài thơ tuyệt bút của Bà Huyện Thanh Quan

"Thăng Long thành hoài cổ" - bài thơ tuyệt bút của Bà Huyện Thanh Quan

Cập nhật lúc 10:33, Thứ Sáu, 13/04/2012 (GMT+7)
(QBĐT) - Từ xưa đến nay, người Quảng Bình và Hà Tĩnh coi đèo Ngang như bức thành chung, tình người giao lưu với câu ca: "Đèo Ngang hai mái chân vân/ Nửa về Hà Tĩnh nửa ái ân Quảng Bình".
Hai bên đường lên xuống đèo có những vạt lúa, nương khoai, cây hoa màu chen với cây phi lao che những mái nhà lúp xúp. Đèo cũng một thời là nơi quân Trịnh bố trí đồn lũy trong cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh "Đàng ngoài" và "Đàng trong", để lại những địa danh, truyền thuyết trong dân gian.
Còn rõ đến ngày nay là "Hoành Sơn Quan", một cửa quan xây bằng đá từ thời vua Minh Mạng (1820-1840) đặt theo hướng ngang lên núi xuống biển. Con đèo cùng với Hoành Sơn Quan từng là đầu đề cho các vị danh nhân, thần tướng đã đặt chân tới đây như Lý Thường Kiệt, Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Lê Quý Đôn,vv... ngẫu hứng thi đàn, có nhiều bài thơ vịnh cảnh đèo liền với khe suối, cây cỏ, nhưng được truyền tụng nổi tiếng là bài thơ "Thăng Long thành hoài cổ" của Bà Huyện Thanh Quan.
Bà Huyện tên gốc là Nguyễn Thị Hinh, sinh ở Nghi Tàm, quận Tây Hồ, từ nhỏ đã nổi tiếng văn thơ, làm cho giới thi nhân ở Thăng Long hâm mộ, nhất là thể loại thơ Đường luật. Bà là người có đức hạnh, học vấn xuất chúng, đã có những bài viết tỏ rõ nỗi buồn thấy cảnh Thăng Long từ khi vua nhà Nguyễn trị vì chỉ chăm xây dựng, tu bổ kinh thành Huế, bỏ những đền đài ở Thăng Long phong rêu, đổ gãy... Tiêu biểu như bài "Thăng Long thành hoài cổ" dưới đây:
"Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đó người đây luống đoạn trường!".
Hai câu mở đầu của bài thơ nêu vấn đề về thế thời và lời oán trách: "Tạo hóa gây chi cuộc hý trướng/ Đến nay thắm thoắt mấy tinh sương...". Lời trách tạo hóa sinh ra cho con người bao nỗi khổ đau, sinh ra cuộc sống với vũ trụ lại xui nên những cuộc tranh giành đẫm máu! Đời người và xã hội đi vào cảnh có rồi không, không lại có. Cái đẹp của hôm qua và hôm nay đã thành cái xấu ngày mai, thành giấc chiêm bao! Bà Huyện Thanh Quan coi thời ở Thăng Long như thời vàng son mà câu tâm sự hoài cổ kín đáo tạo nên đặc điểm trong bài thơ Đường luật nổi tiếng của bà.
Bà giữ gìn trân trọng sự tốt đẹp của lịch sử, coi đó là thiêng liêng với người quân tử, mượn lời trách tạo hóa mà lên án triều đình nhà Nguyễn đã để bao công trình kiến trúc, cũng là di tích văn hóa của kinh thành Thăng Long hoang tàn để dời đô vào Huế, xây một cõi quyền uy ăn chơi bậc nhất thế gian lúc bấy giờ khiến dân tình ai oán! Đi trên thành xưa mà lòng Bà Huyện quặn đau: "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương...". Cảnh hoang tàn vẽ lên sự sầu bi của thành cổ Thăng Long. Sống trong thời đó, tác giả càng chạnh lòng khi nghĩ tới chuyện xưa: "Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt/ Nước còn cau mặt với tang thương...".
Hai câu luận tỏ rõ thái độ mãnh liệt, các từ đá/ nước thể hiện lòng con người: "trơ gan, cau mặt", cũng là sự tố cáo triều Nguyễn thời bấy giờ... Sự đổi thay của thành cũ hướng tới chủ đề: "Ngàn năm gương cũ soi kim cổ/ Cảnh đấy người đây luống đoạn trường...!". Mấy câu này mang tính ẩn dụ, soi gương cũ, từ soi được nhân cách hóa nhằm đi sâu váo ý nhà Nguyễn đã tàn phá Thăng Long, chuyện cũ đã qua rồi mà không thể xóa nhòa. Bài thơ làm cho giới nho sĩ ở Bắc Hà sửng sốt và lan tới giới văn thần ở kinh đô Huế.
Bà Nguyễn Thị Hinh đã theo chồng vào kinh đô Huế, giữ chức "Cung trung giáo tập", dạy các cung tần mỹ nữ, được vua Minh Mạng cùng hoàng gia tin dùng, quý mến. Đang thanh thản với nghề dạy học trong cung thì một tai họa coi như "án văn chương" xẩy đến. Một người tên là Nguyễn Thị Đào dâng đơn lên quan huyện về việc bị người chồng khinh rẻ, bạc đãi, xin được ly dị. Đang lúc quan huyện  đi vắng, bà huyện xem đơn, thông cảm nỗi niềm oan ức của người phụ nữ nên với tài thi phú sẵn có bà phê vào đơn 4 câu thơ: "Phó cho con Nguyễn Thị Đào/ Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai?/ Chữ rằng: Xuân bất tái lai/ Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già".
Mấy câu thơ phê vào đơn với ý tứ làm vui nhưng người chồng đem kiện quan trên, cho rằng quan huyện đã ăn của đút lót, phê đơn chia rẽ gia đình mình, hậu quả dẫn đến ông huyện bị cách chức khi vừa mới được thăng "Viên ngoại lang". Quan hệ giữa hoàng gia với gia đình ông huyện và bà Hinh bị rạn nứt. Một thời gian sau, năm 1847 ông huyện mất ở tuổi 44 vào triều vua Thiệu Trị (1841 - 1847), lòng bà Hinh càng trở nên dửng dưng với cung triều, viện cớ sức yếu, chồng mất, bà xin từ chức "Cung trung giáo tập". Cuộc sắp xếp để trở về Thăng Long được chuẩn bị, bà gửi 4 đứa con trở về Nghi Tâm trước và một mình trở về quê nhà.
Trên đường về quê, Bà Huyện Thanh Quan càng nhìn cảnh vật càng xót xa như khắc vào tâm trí cảnh trời, non, nước bao la, trùng điệp nơi đèo Ngang này mà riêng lòng mình càng đơn độc trống trải trong chiều tà của thiên nhiên cũng như chiều tà của cuộc đời.
Những câu thơ chắt lọc từ khối óc, tim gan của nữ sĩ, đặc biệt những câu thực, câu luận, những tứ đối từng cặp câu thơ khó có bài thơ nào đạt đến như vậy...!
                                                                        Nguyễn Văn Hiệp